Showing posts with label Điều khiển - Tự động hóa. Show all posts
Showing posts with label Điều khiển - Tự động hóa. Show all posts
Tổng quan về bộ điều khiển DDC - bộ điều khiển chuyên dụng trong hệ thống BMS

Tổng quan về bộ điều khiển DDC - bộ điều khiển chuyên dụng trong hệ thống BMS

Trong ngành kỹ thuật nói chung và lĩnh vực kỹ thuật tự động hóa nói riêng cụm từ “bộ điều khiển” chắc không còn xa lạ với ai trong ngành. Đối với ngành tự động hóa thì cụm từ liên quan thường được nhắc đến là “bộ điều khiển PLC”, còn trong kỹ thuật tòa nhà thì đó là “bộ điều khiển DDC”.

DDC là từ viết tắt của cụm từ tiếng anh: Direct Digital Control, tạm dịch “bộ điều khiển kỹ thuật số trực tiếp” hay gọi là “bộ điều khiển DDC”. DDC là bộ điều khiển chuyên dụng trong các hệ thống BMS, HVAC, PCS, Lighting,.. dùng để điều khiển các hoạt động độc lập của các hệ thống trong tòa nhà, nhà máy,..

Bộ điều khiển DDC thực chất giống như là PLC (Programmable Logic Controller), là một bộ điều khiển trung tâm, bên trong có chip xử lý, có bộ nhớ để lưu trữ chương trình, có time clock để định thời, có các cổng vào ra I/O để nhận và xuất tín hiệu điều khiển.


Sơ đồ hệ thống BMS sử dụng các DDC của Honeywell bao gồm cả một số loại bộ điều khiển khác như CP-DIO (Digital I/O controller), CP-IPC (Network controller), CP-SPC (Small point controller for FCU), CP-VAV (controller for VAV system), CP-EXPIO (Expansion IO board for more CP-DIO can used)

#1 Cấu hình bộ điều khiển DDC

Khi bộ điều khiển DDC được chạy lần đầu, các kỹ sư bắt buộc phải tới tận tủ để thực hiện việc cấu hình phần cứng. Với các bộ điều khiển mạng, thường phải kết nối trực tiếp máy tính bằng dây mạng đến bộ điều khiển mạng để thiết lập địa chỉ IP. Đặc biệt, khi quên địa chỉ IP của bộ điều khiển, rất mất thời gian để có thể tìm được lại địa chỉ chính xác (có thể tìm thông qua phần mềm như IPSCAN). Với các hệ thống sử dụng toàn bộ bộ điều khiển mạng, tương tự như quản lý một hệ thống CCTV với các camera IP, cần có một công cụ để cấu hình IP một cách đơn giản.
Tổng quan về OPC - Object Linking and Embedding (OLE) for Process Control

Tổng quan về OPC - Object Linking and Embedding (OLE) for Process Control



OLE for Process Control (OPC), là viết tắt của Object Linking and Embedding (OLE) for Process Control, là một bộ chi tiết kỹ thuật chuẩn được phát triển từ 1996 định rõ việc truyền thông dữ liệu thời gian thực giữa các thiết bị điều khiển từ các nhà sản xuất khác nhau.

Chi tiết kỹ thuật OPC được dựa trên các công nghệ OLE, COM, and DCOM phát triển bởi Microsoft cho hệ điều hành Microsoft Windows. Nó định nghĩa một tập các chuẩn của đối tượng, giao diện và các phương pháp cho việc sử dụng trong điều khiển quá trình và các ứng dụng tự động hóa sản xuất để thuận tiện trong việc vận hành các thiết bị cùng nhau.
Tổng quan đầy đủ về LONWorks

Tổng quan đầy đủ về LONWorks


LONWorks (Local Operating Networks) là một nền tảng công nghệ mạng được tạo ra bởi công ty Echelon. Công nghệ LonWorks bao gồm chip Neuron, giao thức LonTalk, các phương tiện vật lý khác nhau kết nối các thiết bị với nhau, các công cụ quản lý mạng và nhiều sản phẩm được xây dựng trên nền tảng này.
Tổng quan về BACnet và việc kết hợp với các thiết bị Modbus

Tổng quan về BACnet và việc kết hợp với các thiết bị Modbus

BACnet - giao thức cho tự động hóa tòa nhà
BACnet là một giao thức truyền thông dữ liệu chủ yếu được sử dụng trong ngành tự động hóa tòa nhà và công nghiệp HVAC- Heating Ventilation and Air-Conditioning (Hệ thống thông gió sưởi ấm và điều hòa không khí).

Giao thức cho phép các thiết bị như máy điều hòa không khí, máy bơm và thiết bị thông gió giao tiếp với PLC. Điều này tạo ra những ngôi nhà "thông minh" với mức độ tự động hóa cao.
BACnet là viết tắt của Building Automation and Control Networks - Mạng tự động hóa và điều khiển tòa nhà và được phát triển lần đầu tiên vào năm 1987 với sự hỗ trợ của Hiệp hội các kỹ sư nhiệt lạnh và điều hòa không khí (ASHRAE - The American Society of Heating, Refrigerating and Air-Conditioning Engineers). BACnet là tiêu chuẩn quốc gia của Mỹ, tiêu chuẩn châu Âu, tiêu chuẩn quốc gia của hơn 30 nước và tiêu chuẩn toàn cầu ISO.
Hệ thống giám sát và điều khiển sử dụng mạng CAN và web server được nhúng

Hệ thống giám sát và điều khiển sử dụng mạng CAN và web server được nhúng

GIỚI THIỆU
Hệ thống này dựa trên bộ điều khiển kỹ thuật số LM3S ARM CortexM3 của Texas Instruments. Chúng ta có thể quan sát trạng thái vận hành và điều khiển tất cả các thiết bị trong hệ thống thông qua thiết bị UI với menu đơn giản hoặc thông qua trình duyệt web. Ngoài ra, tất cả các thiết bị trong mạng CAN được xây dựng dựa trên FreeRTOS, một trong những Hệ điều hành thời gian thực (Real-Time Operating Systems) cho hệ thống nhúng nhỏ. FreeRTOS là một nguồn mở phổ biến có khả năng xây dựng hệ thống đa nhiệm (muilti-tasking system).

Giới thiệu về Vacuum Transfer Module (Vacuum Cluster Tool) - module truyền dẫn chân không (P1)

Giới thiệu về Vacuum Transfer Module (Vacuum Cluster Tool) - module truyền dẫn chân không (P1)

1. Giới thiệu chung:

Vacuum Transfer Module - VTM (Vacuum Cluster Tool) hay có thể gọi tên sang tiếng Việt là module truyền dẫn (vận chuyển trong) chân không. Module này được dùng rất nhiều trong các nhà máy sản xuất liên quan đến công nghệ bán dẫn (fab) và thường là sẽ làm việc trong môi trường phòng sạch. Trong ngành sản xuất linh kiện bán dẫn nó là một module trung gian để vận chuyển wafer (silicon wafers hoặc quartz photo-masks) giữa môi trường khí quyển (thường viết tắt là atm trong từ atmosphere) và môi trường chân không (thường viết tắt là vac trong từ vacuum) từ bộ EFEM (Equipment Front End Module) là module trang bị đầu vào (đưa đến wafer chưa qua xử lý và nhận lại wafer đã được xử lý xong) tới các module xử lý (PM- process module chẳng hạn như các module deposition, photoresist, aligner (align photo mask), UV light, etch...) để xử lý wafer theo yêu cầu. Tùy theo một hệ thống với chức năng nào đó mà có thể chứa 1,2 hoặc nhiều module truyền dẫn chân không này. Hãy xem một số hình bên dưới để thấy rõ hơn.


Đây là một hệ thống OLED Equipment bao gồm 1 module VTM với 3 buồng TM (là buồng chứa vacuum robot làm nhiệm vụ trung chuyển wafer trong môi trường chân không, các bạn có thể thấy xung quanh buồng TM có các khối vuông với các chữ viết tắt như PT, LL, Mask, HTL, HIL... đó chính là các module xử lý (PM) mà tấm wafer sẽ được di chuyển đến cho các công đoạn xử lý khác nhau.
Buffer chính là buồng đệm để vận chuyển wafer xuyên giữa các module TM với nhau. TM là buồng chamber có chứa Vacuum Robot, chi tiết hơn sẽ đề cập ở bên dưới.

Một số hệ thống khác:



Một hệ thống khác


2. Cấu tạo chung của một Vacuum Transfer Module (VTM):
Thường thì tùy theo bài toán và mục sản xuất mà các module VTM khác nhau được thiết kế ra. Dùng loại wafer nào? 200mm, 300mm, 400mm... theo đó kích thước buồng chamber (gồm TM chamber và Loadlock chamber, sẽ nói cụ thể sau) sẽ khác nhau. Có mấy module xử lý (PM) để thiết kế buồng TM chamber có mấy cửa theo đó, TM chamber có thể là hình vuông, hình lục giác, bát giác... Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến thiết kế một VTM như có tích hợp TM pump luôn không hay tách rời, có spare module xử lý (PM) nào không, có tích hợp LPM- Loadport module (cổng load wafer)... Hãy cùng xem một số hình bên dưới để thấy rõ hơn.
Kiểu 2 buồng TM chamber với 5 cửa PM, Load lock : STACK Type, wafer 200mm


Kiểu 1 buồng TM chamber với 4 cửa PM, Load lock : STACK Type, wafer 300mm

Kiểu 1 buồng TM chamber với 6 cửa PM, Load lock : DUAL STACK TYPE,, wafer 300mm
Kiểu 1 buồng TM chamber với 4 cửa PM, Load lock : ANGLE Type, wafer 300mm
Kiểu 1 buồng TM chamber với 6 cửa PM, Load lock : ANGLE Type, wafer 200mm

Bây giờ chúng ta hãy cùng đi vào tìm hiểu chi tiết nhé:

2.1 Loadlock: Cửa đón nhận wafer, cấp wafer chưa qua xử lý từ EFEM tới buồng TM, rồi từ đây thông qua Robot chân không (vacuum robot) các wafer đó sẽ được vận chuyển sang các PM module để xử lý theo yêu cầu.
Ở phía trước có các Door valve và phía sau có các Slot valve giống như tên gọi chúng là các cửa đóng mở được vận hành dựa theo chu trình bơm chân không và quá trình vận chuyển wafer từ bên ngoài vào bên trong buồng chamber chính (TM chamber).

Tổng quan đầy đủ về giao thức MODBUS (P1)

Tổng quan đầy đủ về giao thức MODBUS (P1)

Giới thiệu:
MODBUS là một giao thức truyền thông lớp ứng dụng, được định vị ở lớp thứ 7 của mô hình OSI, cung cấp giao tiếp client/server giữa các thiết bị được kết nối trên các loại bus hoặc network khác nhau. Ngày nay, sự hỗ trợ cho cấu trúc đơn giản và tao nhã của MODBUS tiếp tục phát triển. Cộng đồng Internet có thể truy cập MODBUS tại cổng hệ thống dành riêng 502 trên TCP/IP stack.

MODBUS là một giao thức yêu cầu/đáp ứng (request/reply) và cung cấp các dịch vụ được chỉ định bởi mã chức năng, mã hàm (function code). Mã chức năng MODBUS là các thành phần của MODBUS request/reply PDUs (protocol data unit - bộ dữ liệu giao thức).

Nó hiện đang được thực hiện bằng cách sử dụng:
+) TCP/IP qua Ethernet.
+) Truyền nối tiếp không đồng bộ qua nhiều phương tiện khác nhau (dây dẫn : EIA/TIA-232-E, EIA-422, EIA/TIA-485-A; sợi quang, radio...)
+) MODBUS PLUS, một mạng truyền mã thông báo (truyền thẻ xác thực) tốc độ cao - a high speed token passing network.

Giao thức MODBUS cho phép giao tiếp dễ dàng trong tất cả các loại kiến trúc mạng.
Mọi loại thiết bị (PLC, HMI, Control Panel, Driver, Motion control, I/O Device…) có thể sử dụng giao thức MODBUS để bắt đầu một hoạt động từ xa.
Giao tiếp tương tự cũng có thể được thực hiện trên đường nối tiếp cũng như trên mạng lưới Ethernet TCP/IP. Các Gateway cho phép giao tiếp giữa một số loại bus hoặc network bằng giao thức MODBUS.

Mô tả giao thức
Giao thức MODBUS định nghĩa một bộ dữ liệu giao thức đơn giản (PDU - protocol data unit) độc lập với các lớp truyền thông bên dưới. Việc ánh xạ giao thức MODBUS trên các bus hoặc network cụ thể có thể đưa vào một số trường bổ sung trên bộ dữ liệu ứng dụng (ADU - application data unit).

Bộ dữ liệu ứng dụng MODBUS được xây dựng bởi client mà khởi tạo giao dịch MODBUS. Hàm chỉ ra cho máy chủ loại hành động cần thực hiện. Giao thức ứng dụng MODBUS thiết lập định dạng của yêu cầu do client khởi tạo.
Trường mã hàm của một bộ dữ liệu MODBUS được mã hóa bằng một byte. Mã hợp lệ nằm trong phạm vi 1 ... 255 decimal (phạm vi 128 - 255 được dành riêng và được sử dụng cho các phản hồi ngoại lệ). Khi một tin nhắn được gửi từ Client đến thiết bị Server, trường mã hàm sẽ cho máy chủ biết loại hành động nào sẽ thực hiện. Mã hàm "0" là không hợp lệ.

Mã hàm phụ được thêm vào một số mã hàm để xác định nhiều hành động. Trường dữ liệu của thông điệp được gửi từ một client đến thiết bị máy chủ chứa thông tin bổ sung mà máy chủ sử dụng để thực hiện hành động được xác định bởi mã hàm. Điều này có thể bao gồm các hạng mục rời rạc và các địa chỉ thanh ghi, số lượng các mục cần xử lý và số byte dữ liệu thực tế trong trường.

Trường dữ liệu có thể không tồn tại (có độ dài bằng không) trong một số loại yêu cầu nhất định, trong trường hợp này, máy chủ không yêu cầu bất kỳ thông tin bổ sung nào. Mã hàm chỉ định hành động đơn độc.
Nếu không có lỗi xảy ra liên quan đến mã MODBUS được yêu cầu trong một MODBUS ADU được nhận một cách đúng đắn, thì trường dữ liệu của một phản hồi từ một máy chủ đến một máy khách sẽ chứa dữ liệu được yêu cầu. Nếu xảy ra lỗi liên quan đến mã MODBUS được yêu cầu, trường chứa mã ngoại lệ mà ứng dụng máy chủ có thể sử dụng để xác định hành động tiếp theo sẽ được thực hiện.

Ví dụ, máy khách có thể đọc trạng thái ON/OFF của một nhóm đầu ra hoặc đầu vào riêng biệt hoặc nó có thể đọc/ghi nội dung dữ liệu của một nhóm các thanh ghi.
Khi máy chủ trả lời máy khách, nó sử dụng trường mã hàm để chỉ ra phản hồi bình thường (không có lỗi) hoặc một số loại lỗi xảy ra (được gọi là phản hồi ngoại lệ). Đối với một phản hồi bình thường, máy chủ chỉ cần lặp lại yêu cầu mã hàm ban đầu.

Tiếp theo hãy cùng tìm hiểu sâu hơn về hai phương thức truyền dẫn của giao thức MODBUS là:
1. MODBUS Serial Line protocol (Truyền thông nối tiếp qua RS232, RS485 gồm 2 chế độ truyền RTU và ASCII)
2. MODBUS over TCP/IP protocol (Truyền thông qua giao thức TCP/IP qua Ethernet)


Tổng quan về giao thức HART (Highway Addressable Remote Transducer Protocol)

Tổng quan về giao thức HART (Highway Addressable Remote Transducer Protocol)

Giao thức HART được xây dựng dựa trên nguyên tắc phất huy tính ưu việt của tín hiệu dòng 4-20mA cho các cảm biến chuyển đổi đo lường thông minh. Nó được đặc biệt áp dụng cho các thiết bị sử dụng tín hiệu ra dạng dòng 4-20mA truyền thống. Giao thức HART cho phép giữ lại tính ưu việt của tín hiệu dòng 4-20mA, đồng thời cho phép khả năng giao tiếp tín hiệu số hai chiều mà không làm ảnh hưởng đến các tính năng đo lường của tín hiệu 4-20mA. Khác với các công nghệ truyền tín hiệu số khác, thiết bị sử dụng giao thức HART vẫn có thể được sử dụng tương thích với các hệ thống sử dụng tín hiệu 4-20mA truyền thống, và do đó cung cấp cho người sử dụng một giải pháp duy nhất để giải quyết vấn đề tương thích giữa hệ thống cũ và công nghệ mới. Vì những lý do đó, HART đang được biết đến như và sự nâng cấp số hóa việc truyền thông sử dụng tín hiệu 4-20mA truyền thống.
Theo mô hình tham chiếu OSI, HART chuẩn hóa lớp 1, 2 và 7.
Giao thức HART sử dụng phương thức mã hóa bit FSK với 2 tần số là 1200 và 2200 Hz cho logic 1 và logic 0. Giá trị trung bình của sóng sin (ở tần số 1200 và 2200 Hz), những tín hiệu được xếp chồng lên các tín hiệu 4-20mA là bằng 0. Vì vậy, các thông tin tương tự 4-20mA sẽ không bị ảnh hưởng .
Cơ chế giao tiếp
HART là giao thức truyền thống dạng chủ/tớ (Master/Slave), có nghĩa là thiết bị tại hiện trường (slave) chỉ có thể giao tiếp với Master. HART có thể được sử dụng trong các chế độ truyền thông khác nhau để truyền tải thông tin từ/tới các cảm biến thông minh và hệ thống điều khiển/giám sát trung tâm. HART cung cấp tới hai Master (sơ cấp và thứ cấp) . Điều đó cho phép Master thứ cấp như thiết bị giao tiếp căn chỉnh bên ngoài có thể được sử dụng để giám sát/cấu hình lại Slave-thiết bị cảm biến mà không làm ảnh hưởng tới Master sơ cấp - Hệ thống điều khiển/giám sát trung tâm. Ứng dụng thường gặp nhất của HART là chế độ giao tiếp Master/slave đồng thời với việc truyền tải tín hiệu 4-20 mA.

Tổng quan các mạng truyền thông công nghiệp - Industrial Communication Networks

Tổng quan các mạng truyền thông công nghiệp - Industrial Communication Networks

Mạng truyền thông công nghiệp là xương sống cho bất kỳ kiến trúc hệ thống tự động nào vì nó đã được cung cấp một phương tiện trao đổi dữ liệu mạnh mẽ, khả năng kiểm soát dữ liệu và tính linh hoạt để kết nối các thiết bị khác nhau. Với việc sử dụng các mạng truyền thông kỹ thuật số độc quyền trong các ngành công nghiệp trong thập kỷ qua đã dẫn đến cải thiện tính chính xác và toàn vẹn tín hiệu kỹ thuật số đầu cuối.
Các mạng này có thể là LAN (Local Area Network - Mạng cục bộ, được sử dụng trong một khu vực hạn chế) hoặc WAN (Wide Area Network - Mạng diện rộng được sử dụng làm hệ thống toàn cầu) cho phép truyền tải một lượng lớn dữ liệu bằng cách sử dụng một số lượng kênh hạn chế. Nó cũng dẫn đến việc thực hiện các giao thức truyền thông khác nhau giữa các bộ điều khiển kỹ thuật số, thiết bị hiện trường, các công cụ phần mềm liên quan đến tự động hóa khác nhau và các hệ thống bên ngoài.

Khi các hệ thống tự động hóa công nghiệp trở nên phức tạp và lớn với nhiều thiết bị tự động hóa trên nền tảng điều khiển thì ngày nay nó có xu hướng hướng tới các tiêu chuẩn kết nối hệ thống mở (OSI-Open Systems Interconnection) cho phép kết nối và giao tiếp với bất kỳ thành phần của thiết bị tự động nào không phụ thuộc vào nhà sản xuất.

Với những tiến bộ trong công nghệ kỹ thuật số, công nghệ fieldbus hiện đang thống trị lĩnh vực tự động hóa vì nó cung cấp phương tiện truyền thông đa điểm giúp tiết kiệm chi phí và tiết kiệm cáp truyền thông. Sau đây là tổng quan về một số mạng truyền thông công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống kiểm soát công nghiệp ngày nay.


Mạng truyền thông công nghiệp - Industrial Communication Network là gì?
Truyền thông dữ liệu đề cập đến việc chuyển đổi thông tin hoặc dữ liệu, chủ yếu ở định dạng kỹ thuật số từ máy phát sang máy thu thông qua một liên kết (có thể là dây đồng, cáp đồng trục, cáp quang hoặc bất kỳ phương tiện nào khác) kết nối hai thiết bị này.

Các mạng truyền thông truyền thống được sử dụng để cho phép truyền dữ liệu giữa các máy tính, máy tính và các thiết bị ngoại vi của nó và các thiết bị khác. Mặt khác, mạng truyền thông công nghiệp là một loại mạng đặc biệt được thực hiện để xử lý kiểm soát thời gian thực và toàn vẹn dữ liệu trong môi trường khắc nghiệt trên các cài đặt lớn.

Các ví dụ về mạng truyền thông công nghiệp bao gồm Ethernet, DeviceNet, Modbus, ControlNet, v.v.
Ba cơ chế kiểm soát quan trọng được sử dụng trong lĩnh vực tự động hóa công nghiệp bao gồm: Bộ điều khiển logic lập trình (PLC-Programmable Logic Controllers), Điều khiển giám sát và Thu thập dữ liệu (SCADA-Supervisory Control and Data Acquisition) và Hệ thống điều khiển phân tán (DCS-Distributed Control System). Tất cả các thành tố này giao tiếp với các máy đo ở hiện trường, thiết bị trường thông minh, máy tính điều khiển giám sát, bộ điều khiển I/O phân tán và giao diện HMI.

Để cung cấp kết nối giữa các thiết bị này và cũng để cho phép giao tiếp giữa chúng, cần có một hệ thống giao tiếp mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Chúng khác biệt đáng kể so với các mạng lưới xí nghiệp truyền thống. Các mạng công nghiệp này tạo thành một con đường giao tiếp giữa các thiết bị hiện trường, bộ điều khiển và PC.
Các phương tiện truyền dẫn để truyền dữ liệu và tín hiệu điều khiển có thể là có dây hoặc không dây. Trong trường hợp truyền dẫn có dây, cáp được sử dụng có thể là một cặp xoắn, cáp đồng trục hoặc sợi quang. Mỗi cáp mạng có các đặc tính điện riêng của nó có thể ít hoặc phù hợp hơn với loại mạng hoặc môi trường cụ thể. Trong trường hợp truyền dẫn không dây, truyền thông được thực hiện thông qua sóng radio.

Fieldbus là một mạng khu vực điều khiển cục bộ được sử dụng cho các hệ thống điều khiển phân tán thời gian thực trong các hệ thống công nghiệp tự động phức tạp. Nó là một liên kết truyền thông kỹ thuật số đa điểm hai chiều giữa các bộ điều khiển và các thiết bị trường thông minh như cảm biến thông minh/bộ truyền động/bộ chuyển đổi. Nó thay thế hệ thống truyền thông điểm-điểm thông thường bao gồm nhiều cặp dây bằng với số lượng thiết bị hiện trường. Trong khi đó với hệ thống fieldbus, hai dây là đủ cho nhiều thiết bị thuộc cùng một phân đoạn. Kết quả là giúp tiết kiệm lượng lớn dây cáp và tối ưu chi phí. Profibus và Foundation Field Bus là hai công nghệ fieldbus thống trị nhất được sử dụng trong lĩnh vực tự động hoá quy trình.


Cấp bậc phân cấp trong mạng truyền thông công nghiệp
Trong ngành công nghiệp sản xuất hoặc quy trình, thông tin hoặc luồng dữ liệu từ cấp trường đến cấp quản lý-vận hành (từ dưới lên trên) và ngược lại. Các cấp độ khác nhau phải xử lý các yêu cầu khác nhau của một cấp cụ thể. Vì vậy, rõ ràng là không có yêu cầu địa chỉ mạng truyền thông duy nhất cần thiết cho mỗi cấp. Do đó các cấp độ khác nhau có thể sử dụng mạng khác nhau dựa trên các yêu cầu như khối lượng dữ liệu, truyền dữ liệu, bảo mật dữ liệu, v.v. Dựa trên chức năng, mạng truyền thông công nghiệp được phân thành ba cấp độ chung được thảo luận dưới đây.

Phân cấp thiết bị - Device Level:
Mức thấp nhất này bao gồm các thiết bị tại hiện trường như cảm biến và bộ truyền động của các quá trình và máy móc. Nhiệm vụ của cấp độ này là chuyển thông tin giữa các thiết bị này và các thành phần quy trình kỹ thuật như PLC. Việc chuyển giao thông tin có thể là kỹ thuật số, analog hoặc lai. Các giá trị đo được có thể tồn tại trong thời gian dài hoặc qua một khoảng thời gian ngắn.

Để cung cấp thông tin liên lạc phân cấp ở hiện trường, dòng lặp 4-20 mA, các giao thức liên lạc điểm-điểm được sử dụng rộng rãi. Các mạng này bao gồm các loại cáp song song, đa dây làm phương tiện truyền dẫn. Các chuẩn giao thức truyền thông nối tiếp phổ biến được sử dụng ở cấp độ này bao gồm RS232, RS422 và RS485. Có rất nhiều mạng truyền thông cấp trường khác có sẵn được mô tả các yếu tố khác nhau như thời gian phản hồi, kích thước tin nhắn, v.v.

Ngày nay, công nghệ fieldbus là mạng truyền thông tinh vi nhất được sử dụng ở cấp độ hiện trường vì nó tạo điều kiện cho việc kiểm soát phân tán giữa các thiết bị và bộ điều khiển trường thông minh khác nhau. Đây là một hệ thống truyền thông hai chiều trong đó nhiều biến được quan tâm bằng cách truyền đơn. Các loại fieldbus khác nhau bao gồm HART, ControlNet, DeviceNet, CAN Bus, Profibus và Foundation Fieldbus.


Tổng quan về TCP/IP. TCP/IP Model and TCP/IP Protocols

Tổng quan về TCP/IP. TCP/IP Model and TCP/IP Protocols

Nhu cầu trao đổi thông tin trong nhiều lĩnh vực khác nhau , về nhiều chủ đề khác nhau, giữa các tổ chức, các cơ quan… là không có giới hạn. vì thế, nhu cầu kết nối các mạng khác nhau để trao đổi thông tin là thực sự cần thiết. Nhưng thật không may là hầu hếtt các mạng của các công ty, cơ quan…đều là các thực thể độc lập, được thiết lập để phục vụ nhu cầu trao đổi thông tin của bản thân các tổ chức đó. Các mạng này có thể được xây dựng từ những kỹ thuật phần cứng của riêng họ. Điều này chính là một cản trở cho việc xây dựng mạng chung. Nhu cầu về một kỹ thuật mới mà có thể kết nối được nhiều mạng vật lý có cấu trúc khác hẳn nhau là thực sự cần thiết. Nhận thức được điều đó trong quá trình phát triển mạng ARPANET của mình tổ chức ARPA (Advance Research Prọect Agency) đã tập trung nghiên cứu nhằm đưa ra một kỹ thuật nhằm thoả mãn những yêu cầu trên. Kỹ thuật ARPA bao gồm một thiết lập các chuẩn mạng xác định rõ các chi tiết của của việc làm như thế nào để các máy tính có thể truyền thông với nhau cũng như với một sự thiết lập các quy tắc cho việc kết nối mạng, lưu thông và chọn đường. Kỹ thuật đó được phát triển đầy đủ và được đưa ra với tên gọi chính xác là TCP/IP internet Protocol Suit và thường được gọi tắt là TCP/IP. 
Dùng TCP/IP người ta có thể kết nối được tất cả các mạng bên trong công ty của họ hoặc có thể kết nối giữa các mạng của các công ty với nhau.

TCP/IP có một số đặc tính quan trọng sau:
- Là bộ giao thức chuẩn mở và sẵn có vì: nó không thuộc sở hữu của bất cứ một tổ chức nào; các đặc tả thì sẵn có và rộng rãi. Vì vậy, bất kì ai cũng có thể xây dựng phần mềm truyền thông qua mạng máy tính dựa trên nó.
- TCP/IP độc lập với phần cứng mạng vật lý, điều này cho phép TCP.IP có thể được dùng để kết nối nhiều loại mạng có kiến trúc vật lý khác nhau như Ethernet, Token Ring, FDDI, X25, ATM…
- TCP/IP dùng địa chỉ IP để định danh các host trên mạng tạo thành một mạng ảo thống nhất khi kết nối mạng.

So sánh giữa mô hình OSI và TCP/IP
Kiến trúc của TCP/IP được mô tả như trong hình :
SMTP: Simple Mail Transfer Protocol.
FTP: File Transfer Protocol.
DNS: Doname System
SNMP: Simple Network Management Protocol.
ICMP: Internet Control Message Protocol.
ARP: Address Resolution Protocol.
RIP: Routing Information Protocol.
FDDI: Fiber Distributed Data Interface.
Lớp truy cập mạng (network access): bao gồm hai lớp Physical và Data Link của mô hình OSI 7 lớp.
Lớp mạng (Internet): tương đương với lớp Network bao gồm các giao thức:
  1. IP (Internet Protocol)
  2. ICMP (Internet Control Message Protocol).
  3. IGMP (Internet Group Managerr Protocol)
  4. ARP (Address Resolution Protocol)
  5. RARP ( Reserver Address Resolution Protocol)
Lớp truyền tải (transport): gồm các giao thức TCP, UDP.
Lớp giao tiếp ứng dụng (Apllication Program Interface): FTP, HTTP, SMTP, TELNET, DNS, SNMP, NSF, RPC, TFTP.
Nếu tách riêng TCP và IP thì đó là những chuẩn riêng về giao thức truyền thông, tương đương với lớp vận chuyển và lớp mạng trong mô hình OSI. Nhưng người ta cũng dùng TCP/IP để chỉ một mô hình truyền thông ra đời trước khi có chuẩn OSI.

Lớp ứng dụng
Lớp ứng dụng thực hiện chức năng hỗ trợ cần thiếtcho nhiều ứng dụng khác nhau. Với mỗi loại ứng dụng cần module riêng biệt, ví dụ FTP (File Transfer Protocol) cho chuyển giao file, TELNET cho làm việc với trạm chủ từ xa, SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) cho chuyển thư điện tử, SNMP (Simple Network Management Protocol) cho quản trị mạng và DNS (Domain Name Service) phục vụ quản lí và tra cứu danh sách và tên địa chỉ Internet.

Lớp vận chuyển
Cơ chế bảo đảm dữ liệu được vận chuyển một cách đáng tin cậy, hoàn toàn không phụ thuộc vào đặc tính của các ứng dụng sử dụng dữ liệu. TCP (Transmission Control Protocol) là giao thức tiêu biểu nhất, phổ biến nhất phục vụ việc thực hiện chức năng nói trên. TCP hỗ trợ việc trao đổi dữ liệu trên cơ sở dịch vụ có nối.
Bên cạnh TCP, giao thức UDP (User Datagram Protocol) cũng được sử dụng cho lớp vận chuyển. Khác với TCP, UDP cung cấp dịch vụ không có nối cho việc gửi dữ liệu mà không đảm bảo tuyệt đối đến đích và trình tự đến đích của các gói dữ liệu. Tuy nhiên UDP lại đơn giản và hiệu xuất, chỉ đòi hỏi cơ chế xử lí giao thức tối thiểu, vì vậy thường được sử dụng làm cơ sở thực hiện các giao thức cao cấp theo yêu cầu riêng của người sử dụng, ví dụ giao thức SNMP.

Lớp Internet
Tương tự như lớp mạng ở OSI, lớp Internet có chức năng chuyển giao dữ liệu giữa nhiều mạng được liên kết với nhau. Giao thức IP (Internetworking Protocol) được sử dụng ở chính lớp này. Giao thức IP được thực hiện không những ở các thiết bị đầu cuối mà còn ở các bộ Router. Một router chính là một thiết bị xử lí giao thức dùng để liên kết hai mạng, có chức năng chuyển giao dữ liệu từ một mạng này sang một mạng khác, trong đó có cả nhiệm vụ tìm đường tối ưu.

Lớp truy nhập mạng
Lớp truy nhập mạng liên quan tới việc trao đổi dữ liệu giữa hai trạm thiết bị trong cùng một mạng. Các chức năng bao gồm việc kiểm soát truy nhập môi trường truyền dẫn, kiểm lỗi và lưu thông dữ liệu.

Lớp vật lí
Lớp vật lí đề cập tới giao diện vật lí giữa một thiết bị truyền dữ liệu (PC hay PLC) với môi trường truyền dẫn hay mạng, trong đó có đặc tính tín hiệu, chế độ truyền, tốc độ truyền và cấu trúc cơ học các phích cắm và giắc cắm.

Nguồn bài viết: Điện tử Việt Nam
Tổng quan về EtherNet/IP: Industrial Protocol White Paper

Tổng quan về EtherNet/IP: Industrial Protocol White Paper

Tóm tắt - DeviceNet ™ và ControlNet ™ là hai mạng công nghiệp nổi tiếng dựa trên giao thức CIP (CIP = Control a Information Protocol). Cả hai mạng này đều được phát triển bởi Rockwell Automation, nhưng bây giờ được sở hữu và duy trì bởi hai tổ chức ODVA (Open DeviceNet Vendors Association) và ControlNet International. ODVA và ControlNet International gần đây đã giới thiệu thành viên mới nhất của gia đình này - EtherNet/IP ("IP" viết tắt của "Industrial Protocol"). Bài viết này mô tả các kỹ thuật và cơ chế được sử dụng để thực hiện một bộ đầy đủ các dịch vụ và đối tượng dữ liệu trên các giao thức TCP/UDP/IP dựa trên mạng Ethernet®.

I. Giới thiệu
Một kiến trúc tự động hóa phải cung cấp cho người dùng ba dịch vụ chính.
Thứ nhất phần điểu khiển là quan trọng nhất. Các dịch vụ điều khiển bao gồm việc trao đổi các dữ liệu time-critical giữa các thiết bị điều khiển như PLC và các thiết bị I/O như các bộ biến tần, cảm biến và bộ truyền động. Các mạng mà được giao nhiệm vụ truyền dữ liệu này phải cung cấp một số mức độ cài đặt ưu tiên và/hoặc khả năng gián đoạn/ngắt.
Thứ hai, các mạng phải cung cấp cho người dùng khả năng cấu hình để thiết lập và duy trì hệ thống tự động hóa của họ. Chức năng này thường đòi hỏi việc sử dụng một máy tính cá nhân (PC) hoặc công cụ tương đương cho việc lập trình các thiết bị khác nhau trong hệ thống. Điều này có thể được thực hiện khi chạy thử nghiệm, và cả trong thời gian chạy thực, chẳng hạn như quản lý phương thức trong các thao tác bó/ vận hành theo mẻ (batch operations).
Cuối cùng, một kiến trúc tự động hóa phải cho phép thu thập dữ liệu cho mục đích hiển thị trong các trạm MMI, phân tích và trending và/hoặc khắc phục sự cố và bảo trì. Các mạng có thể cung cấp tất cả ba dịch vụ - điều khiển, cấu hình và thu thập dữ liệu - mang lại sự linh hoạt và hiệu quả cao nhất cho hiệu năng của toàn bộ hệ thống tốt hơn. Các mạng dựa trên mô hình producer/consumer - nơi dữ liệu được xác định chứ không gắn với các địa chỉ nguồn và đích rõ ràng - có thể hỗ trợ điều khiển, cấu hình và thu thập các dịch vụ dữ liệu. Các lớp ứng dụng sử dụng các đối tượng phân tán và các dịch vụ truyền tin producer/consumer đáp ứng yêu cầu của kiến trúc tự động hóa. Trong việc cung cấp các dịch vụ này (hình 1 thể hiện một kiến trúc tự động hoá đặc trưng), không thể giả định rằng một lớp mạng đơn lẻ sẽ đáp ứng tất cả các yêu cầu của ứng dụng vì các lớp liên kết dữ liệu (data link layer) và lớp vật lý (physical layer) của mỗi mạng có các thuộc tính và lợi ích riêng. Trường hợp yêu cầu một cấu trúc mạng đa cấp (multi-level network structure), thì kiến trúc mạng đó phải cung cấp tính nhất quán của dữ liệu giữa các phân đoạn mạng khác nhau.
Hình 1: Kiến trúc tự động hoá đa cấp đặc trưng
Tương tự như vậy, khi những dịch vụ này được cung cấp trên một mạng Ethernet, không thể giả định rằng các dịch vụ khác sẽ không bắt buộc đối với phân khúc mạng đó. Các dịch vụ producer/consumer phải cùng hiện hữu đầy đủ với các dịch vụ khác mà có thể tồn tại trên phân đoạn mạng (ví dụ, http cho các trang web). Kiến trúc điển hình thể hiện trong hình 1 ở trên bao gồm một mạng cấp truyền thông (information level network) có thể được cung cấp bởi một phân đoạn mạng Ethernet, mà hầu hết các nhà cung cấp bộ điều khiển đã và đang cung cấp trong nhiều năm. Nó có một cấp điều khiển (control level), mà theo cách truyền thống thường được đánh giá các thuộc tính như hard determinism và media redundancy (như ControlNet của ControlNet International) và một cấp thiết bị (device level) yêu cầu khối lượng dữ liệu thấp với nguồn cấp và dữ liệu được cung cấp trong một cáp mạng đơn - a single robust network cable (như DeviceNet từ ODVA). ODVA và ControlNet International gần đây đã giới thiệu thành viên mới nhất của gia đình CIP - EtherNet/IP ("IP" là viết tắt của "Industrial Protocol"). Giao thức này thực hiện đủ bộ các dịch vụ dữ liệu gồm điều khiển, cấu hình, và thu thập dữ liệu trên một mạng Ethernet và do đó có thể được sử dụng cho cả cấp thông tin và điều khiển trong kiến trúc điển hình thể hiện trong hình 1.

Hình 2: Phạm vi đặc tả kỹ thuật EtherNet/IP
Ethernet/IP thực chất là gồm 2 phần - EtherNet và IP - ghép lại. Phần “EtherNet” đề cập đến Ethernet thương mại phổ dụng trên thị trường, còn “IP” là viết tắt của cụm từ ‘Industrial Protocol’ (giao thức công nghiệp). Không giống như nhiều giải pháp Ethernet công nghiệp khác, Ethernet/IP sử dụng giao thức mở sẵn có, đã được chấp nhận rộng rãi như CIP. Có thể gọi Ethernet/IP là hiện thân của CIP trong mạng Ethernet TCP/IP, cũng giống như DeviceNet là hiện thân của CIP trong mạng CAN (Controller Area Network).

Ethernet/IP sử dụng TCP/IP để gửi những thông điệp hiện (explicit messages). Trong đó, mỗi gói thông điệp không những bao gồm dữ liệu ứng dụng mà còn cả nghĩa dữ liệu và các dịch vụ kèm theo. Ethernet/IP còn dung hoà với chuẩn UDP/IP (User Datagram Protocol/Internet Protocol) để truyền các thông điệp dịch vụ, hay còn được biết đến dưới cái tên ‘thông điệp ngầm’ (implicit massages). Do dung hoà cả giao thức TCP/IP và UDP/IP trong thông điệp gửi qua mạng, nên các công ty có thể sử dụng Ethernet/IP cho việc lấy thông tin và điều khiển.
Kiến trúc giao thức Ethernet/IP
Như trên có thể thấy kiến trúc giao thức của Ethernet/IP dựa trên Ethernet (lớp vật lý-physical, lớp liên kết dữ liệu-Data Link, lớp vận chuyển-Transport và lớp mạng-Network), phần trên gồm các lớp kiểm soát nối-Sesion, lớp biểu diễn dữ liệu-Presentation và lớp ứng dụng-Application tuân theo CIP (Common Industrial Protocol).
Tập đoàn Rockwell Automation trình làng dãy sản phẩm Ethernet/IP đầu tay như Allen-Bradley ControLogix, ProcessLogix, họ bộ điều khiển PLC 5 và SLC 500. Tiếp theo sau đó là một loại các công ty, tập đoàn bắt đầu nghiên cứu, phát triển những sản phẩm Ethernet/IP.

Trong các ứng dụng truyền thống, một mạng thông tin kết nối bộ điều khiển logic khả trình với một mức cao cấp - hệ thống MES. Bộ điều khiển còn được nối tới một mạng thứ hai - các bus I/O - để kết nối toàn bộ thiết bị ngoại vi trong nhà máy. Người sử dụng cuối sẽ sử dụng mạng I/O để môđun hoá việc xây dựng và nối hệ thống, thu thập thông tin từ xa và quản lý tiến độ sản xuất.

Đối lập với ứng dụng truyền thống, hiện nay, bộ điều khiển có thể được nối tới mạng Ethernet/IP cho cả thông tin và I/O sử dụng kiến trúc mạng “flat”. Phụ thuộc vào từng ứng dụng, phương pháp này không những mang lại nhiều lợi ích hơn so với phương pháp truyền thống mà còn bổ sung nhiều tính năng, như:
- Những dịch vụ mới như âm thanh và hình ảnh. Có thể lắp đặt thêm camera để quan sát nhà máy và dòng sản phẩm từ xa;
- Tôpô mạng biến thiên: như thiết lập tất cả các đầu nút lập trình trong mạng LAN ảo. Điều này tạo sự dễ dµng cho các kỹ sư kết nối các điểm đầu nút trên một mạng, nhưng vẫn có thể tách biệt đa hệ thống điểu khiển;
- Tích hợp IT: như việc truy cập vào hệ thống MES từ sàn máy để kiểm tra và “refresh” thời gian thực thông tin lập lịch;
- Quản lý từ xa: như lập trình hệ thống điều khiển để nó có thể gửi một thông điệp tới pager bảo trì khi có hiện tượng cảnh báo lỗi;

Lợi ích của EtherNet/IP
Bởi vì ControlNet, DeviceNet và EtherNet/IP sử dụng chung giao thức lớp ứng dụng, chúng cũng chia sẻ một thư viện đối tượng và cấu hình thiết bị. Các đối tượng và cấu hình này cho phép khả năng tương thích plug-and-play giữa các thiết bị phức tạp từ nhiều nhà cung cấp. Các định nghĩa đối tượng là nghiêm ngặt và hỗ trợ truyền thông I/O thời gian thực, cấu hình và chẩn đoán trên cùng một mạng. Điều này có nghĩa là người dùng có thể kết nối với các thiết bị phức hợp như biến tần, bộ điều khiển robot, đầu đọc mã vạch và weigh scales mà không cần phần mềm tùy chỉnh. Kết quả là khởi động nhanh hơn và chẩn đoán vượt trội.
Lợi ích của EtherNet / IP
Ngoài ra, EtherNet / IP cung cấp cho người dùng cả dịch vụ thông báo hiện (thông tin) và ẩn (điều khiển). Do đó, EtherNet / IP cung cấp tất cả các dịch vụ cần thiết cho các mạng cấp điều khiển và cấp thiết bị - từ các cơ chế kích hoạt chuyển trạng thái change-of-state, thăm dò và tuần hoàn đến việc chuyển dữ liệu điểm-điểm và đa điểm (point-to-point and multicast). Cuối cùng, với sự chấp nhận nhanh chóng của ControlNet và DeviceNet, gần 400 nhà cung cấp từ khắp nơi trên thế giới đã phát triển hơn 500 sản phẩm tương thích cho bất kỳ mạng nào trong ba mạng. Điều này rất quan trọng nếu chỉ để minh họa rằng hỗ trợ cho EtherNet/IP là vô song và sẽ chỉ tiếp tục phát triển mà thôi.

Phần kết luận
Ba tiến bộ công nghệ: việc sử dụng Ethernet 100MBps, việc sử dụng các thiết bị chuyển mạch và các thiết bị đầu cuối hoạt động song công hoàn toàn (full duplex operation) đã giảm cả xác suất xung đột và hậu quả của chúng tới mức làm cho việc điều khiển I/O qua Ethernet là một lựa chọn rủi ro thấp có thể kiểm soát . Sự chấp nhận toàn cầu của Ethernet TCP/IP đã làm cho nó trở thành một lựa chọn phổ biến cho nhiều người dùng cuối (end users) và cho một loạt các ứng dụng mạng. Nó cung cấp một sự phong phú của các sản phẩm tương thích, thông lượng dữ liệu cao, và các thành phần thương mại có sẵn với chi phí tương đối thấp. Mô hình tương lai cho Ethernet là một trong những đối tượng phân tán truyền thông theo kiểu ngang hàng (peer-to-peer fashion), trong các mạng intranet ( corporate intranets) và qua cả Internet. Trong môi trường này, các thiết bị Ethernet plant-floor sẽ được yêu cầu để tương tác với các ứng dụng thông tin corporate cũng như hỗ trợ điều khiển, thường trên cùng một mạng. Khách hàng sẽ yêu cầu các thiết bị từ các nhà cung cấp khác nhau vận hành trên cùng một mạng. Đạt được mục tiêu này sẽ yêu cầu sự thông qua/sự chấp nhận một lớp Ứng dụng mà:
- được xếp lớp trên TCP/IP (và UDP/IP)
- thực hiện một mô hình đối tượng phân tán
- cho phép điều khiển và truyền tin cùng tồn tại trên cùng mạng Ethernet
- cung cấp các dịch vụ mạng producer/consumer
- đáp ứng các yêu cầu đa dạng của ngành công nghiệp tự động hóa công nghiệp
- được chấp nhận và thực hiện bởi nhiều nhà cung cấp tự động hóa
Đây là một nhu cầu quan trọng trong ngành công nghiệp nếu điều khiển thời gian thực và khả năng tương tác phổ quát qua Ethernet TCP/UDP/IP sẽ được thực hiện.
Nguồn tham khảo: Điện tử Việt Nam
Hệ thống bus công nghiệp DeviceNet

Hệ thống bus công nghiệp DeviceNet

DeviceNet là một hệ thống bus được hãng Allen-Bradley phát triển dựa trên cơ sở của CAN, dùng để nối mạng cho các thiết bị đơn giản ở cấp chấp hành. Sau này, chuẩn DeviceNet được chuyển sang dạng mở dưới sự quản lý của hiệp hội ODVA (Open DeviceNet Vendor Asscociation) và được dự thảo chuẩn hóa IEC 62026-3.
DeviceNet không chỉ đơn thuần là chuẩn giao thức cho lớp ứng dụng của CAN, mà còn bổ sung một số chi tiết thực hiện lớp vật lý và đưa ra các phương thức giao tiếp kiểu điểm-điểm hoặc chủ tớ. Cấu trúc mạng là đường trục/đường nhánh, trong đó chiều dài đường nhánh hạn chế dưới 6 m. Ba tốc độ truyền qui định là 125 Kbit/s, 250 Kbit/s và 500 Kbit/s tương ứng với chiều dài tối đa của đường trục là 500 m, 250 m và 100m.

Mỗi mạng DeviceNet cho phép ghép nối tối đa 64 trạm. Khác với CAN, mỗi thành viên trong một mạng DeviceNet được đặt một địa chỉ trong khoảng từ 0-63, được gọi là MAC-ID (Medium Access Control Identifier). Việc bổ sung hay bỏ đi một trạm có thể thực hiện ngay khi mạng còn đóng nguồn.


Kiến trúc giao thức DeviceNet
DeviceNet phát triển dựa trên CAN, nó chuẩn hóa lớp 1,2 và 7 theo mô hình tham chiếu OSI. Lớp 1 và 2 định nghĩa các kiến trúc nền tảng cơ bản của mạng, lớp 7 cung cấp giao diện cho phần mềm ứng dụng.

Lớp vật lý trong kiến trúc DeviceNet
DeviceNet có cấu trúc mạng kiểu đường trục/ đường nhánh. Đường trục (các dây màu xanh da trời hoặc trắng) là xương sống (backbone) của mạng và phải được kết thúc với trở đầu cuối là 120 Ohm, 0.25W. Các đường nhánh có chiều dài tối đa là 6m, dùng để kết nối các nút mạng với đường trục chính.
Một số hình ảnh thực tế về dây dùng kết nối cho mạng DeviceNet bạn sẽ thấy nó luôn được kết thúc với trở đầu cuối là 120 Ohm, 0.25W


Lớp liên kết dữ liệu trong kiến trúc Device Net
a. Cơ chế giao tiếp
Một mạng DeviceNet hoạt động dựa trên mô hình nhà sản xuất/người tiêu dùng(producer/consumer). Trong các bài toán điều khiển, mô hình này cho phép các hình thức giao tiếp như sau :
- Điều khiển theo sự kiện : một thiết bị chỉ gửi dữ liệu mỗi khi dữ liệu có thay đổi.
- Điều khiển theo thời gian : Mỗi thiết bị có thể gửi dữ liệu một cách tuần hoàn theo chu kì do người sử dụng đặt
- Gửi đồng loạt : thồng báo được gửi đồng thời tới tất cả hoặc một nhóm thiết bị
- Hỏi tuần tự : Phương pháp cổ điển cho các hệ thống có cấu hình chủ /tớ.
Việc đặt cấu hình và tham số cho các thiết bị cho các thiết bị trong khi đưa vào hoạt động cũng như trong khi vận hành không gây ảnh hưởng đáng kể tới tính năng thời gian của ứng dụng điều khiển. Bên cạnh đó, có thể thực hiện chức năng thu thập dữ liệu một cách định kì hoặc theo nhu cầu, phục vụ các ứng dụng giao diện người-máy, vẽ đồ thị và phân tích, quản lý công thức, bảo dưỡng và gỡ rối.
b. Cấu trúc bức điện
Khung bức điện DeviceNet được mô tả ở trên hình vẽ, trường thông tin dữ liệu nhỏ hơn 8 byte, khi truyền các bức điện lớn ta phải phân mảnh dữ liệu.
c. Truy nhập bus
DeviceNet sử dụng phương thức truy nhập bus là CSMA/CA với sự phân xử từng bit. Trong đó sự phân xử thực hiện việc thay thế từng bit dựa vào trường thông tin đầu tiên trong khung truyền (trường thông tin nhận dạng Identifier 11 bit). Nếu một nút muốn truyền, nó phải chờ sự truyền dẫn đang tồn tại trên đường truyền. Sau khi sự truyền đó kết thúc, nó phải chờ thêm 1 khoảng thời gian bằng 3 lần thời gian bit (khung quá tải) rồi mới được truyền.
Trên hình vẽ mô tả việc truyền dữ liệu đồng thời của nút 1 và 2. Mọi tín hiệu truyền đều bình thường ở vài bit đầu tiên. Khi trạng thái tín hiệu chuyển lên mức cao, có sự sai khác giữa 2 bit truyền. Từ đó trạng thái ‘0’ là trội , đầu ra của nút 2 sẽ lấn át nút 1. Nút 1 sẽ mất quyền ưu tiên và ngừng truyền.