Showing posts with label Hóa học và Sinh học. Show all posts
Showing posts with label Hóa học và Sinh học. Show all posts
Các nguyên liệu chính để sản xuất bia

Các nguyên liệu chính để sản xuất bia

Bia được sản xuất từ các nguyên liệu chính là malt đại mạch, hoa houblon và nước. Để tiết kiệm nguồn đại mạch hoặc để sản xuất một vài loại bia thích hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, phù hợp với từng khu vực, từng địa phương khác nhau thì bên cạnh malt đại mạch, có thể dùng thêm các nguyên liệu phụ như bột mì, bột gạo, bột ngô, thậm chí có thể dùng cả bột đậu tương đã tách béo. Tuy nhiên cho đến nay, bia trên toàn thế giới được sản xuất theo công thức chung sau đây:

BIA = MALT ĐẠI MẠCH + HOUBLON + NƯỚC

Đây là ba nguyên liệu chính để sản xuất bia. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay nguyên liệu chính để sản xuất bia phải nhập từ nước ngoài, đó là malt đại mạch và hoa houblon, nhiều năm nay ở Việt Nam đã nghiên cứu trồng cây đại mạch và hoa houblon ở một số vùng phía Bắc, Lâm Đồng nhưng năng suất rất thấp, chất lượng cả malt đại mạch lẫn hoa houblon đều chưa đạt yêu cầu. Hiện nay, Viện nghiên cứu cây trồng nước ta đang nghiên cứu để cải thiện năng suất lẫn chất lượng, để dần dần có thể tiến tới thay thế hoặc hạn chế nhập khẩu malt đại mạch và hoa houblon.

1. Nguyên liệu nước trong sản xuất bia
Trong sản xuất bia nước là một nguyên liệu không thể thay thế được. Nước chiếm khoảng (77÷90)% trong bia thành phẩm, để sản xuất 1 lít bia cần phải tiêu tốn khoảng 25 lít nước. Trên dây chuyền công nghệ chính, nước dùng trong quá trình nấu, pha loãng dung dịch đường để lên men, thậm chí nước còn là một chất tại lạnh trung gian có nhiều tính ưu việt cung cấp lạnh cho quá trình làm lạnh nhanh dịch lên men, cũng như các quá trình lên men,..., nước dùng làm sạch môi trường nhà máy công nghệ sản xuất bia, nước cung cấp cho nồi hơi, ngoài ra nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành vị của sản phẩm, nước dùng để uống, vì thế nước trở thành thành phần chính của dây chuyền công nghệ sản xuất bia.

Nước dùng trong công nghệ sản xuất bia đòi hỏi phải đạt những chỉ tiêu chất lượng quan trọng như: độ cứng, độ pH, hàm lượng khoáng chất và chỉ tiêu về vi sinh,....

Độ cứng của nước là hàm lượng muối canxi (Ca2+) và magiê (Mg2+) hòa tan, trong đó chỉ số hóa học đặc trưng cho độ cứng của nước là tổng hàm lượng tính bằng miligam – đương lượng các ion Ca2+ và Mg2+ trong 1 lít nước. Nước chứa dưới 1,5 mg – đương lượng Ca2+ và Mg2+/ 1 lít được coi là nước rất mềm; từ (1,5÷3) mg – đương lượng Ca2+ và Mg2+/ 1 lít được coi là nước mềm; từ (3÷6) mg – đương lượng Ca2+ và Mg2+/ 1 lít được coi là nước có độ cứng trung bình; từ (6÷10) mg đương lượng Ca2+ và Mg2+/1 lít được coi là nước cứng; lớn hơn 10 mg đương lượng Ca2+ và Mg2+/1 lít được coi là nước rất cứng.

Nước dùng cho sản xuất bia tốt nhất là nước rất mềm hoặc ít ra là nước mềm, thích hợp nhất là nước có độ cứng tạm thời khoảng 0,7 mg - đương lượng Ca2+ và Mg2+/1 lít, độ cứng vĩnh cửu khoảng (0,4 ÷0,7) mg – đương lượng Ca2+ và Mg2+/ 1 lít.

Nước dùng trong công nghệ sản xuất bia luôn phải được kiểm tra trước khi đưa vào sử dụng, nếu nước không đạt chất lượng thì nó là nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sản phẩm, đôi khi nó làm cho sản phẩm bị hư hoặc chứa nhiều độc tố do các sản phẩm phụ sinh ra. Nhất là khi nước đã nhiễm một lượng vi sinh vật lớn, chính các vi sinh vật này tham gia trong quá trình lên men tạo ra những sản phẩm ngoài ý muốn.

Nước dùng trong công nghệ sản xuất bia phải đạt được những chỉ tiêu hóa lý và vi sinh như ở bảng 1 bên dưới.


Nước dùng trong công nghệ sản xuất bia trước khi đưa vào sử dụng phải qua thiết bị xử lý nước riêng của nhà máy và được tiệt trùng, đảm bảo các chỉ tiêu chất lượng.

2. Malt đại mạch
Đại mạch là một loại ngũ cốc, được chia làm hai nhóm: đại mạch mùa đông (gieo hạt mùa đông, thu hoạch vào mùa hè) và đại mạch mùa xuân (gieo hạt mùa xuân, thu hoạch vào mùa thu). Chu kỳ sinh trưởng của đạt mạch thông thường từ 100 đến 120 ngày.

Hạt đại mạch được cấu tạo từ ba bộ phận chính: vỏ, nội nhũ và phôi. Thành phần hóa học của hạt đại mạch tính theo hàm lượng chất khô, theo bảng 2 bên dưới.

Bảng 2. Thành phần hóa học của hạt đại mạch


Trọng lượng trung bình của hạt đại mạch khoảng từ (40 ÷ 50) g/ 1000 hạt, kích thước hạt tương đối nhỏ, nó có hình dạng gần giống như hạt lúa.

Malt đại mạch là nguyên liệu chính để sản xuất bia, mált là sản phẩm được sản xuất từ hạt đại mạch, khi cho hạt đại mạch nẩy mầm trong những điều kiện nhân tạo sau đó loại bỏ mầm sấy khô sẽ thu được đại mạch, những hạt này sau đó được bảo quản.

Qua quá trình nẩy mầm một lượng lớn enzyme xuất hiện và tích tụ trong hạt đại mạch nẩy mầm. Trong đó chủ yếu là enzyme amilaza, proteaza, và một số các enzyme khác, những enzyme này rất hữu ít bởi vì nó tham gia vào quá trình xúc tác sinh học trong quá trình sản xuất bia. Chất lượng malt được quyết định bởi các giống đại mạch, các loại malt đại mạch khác nhau sẽ cho chất lượng bia khác nhau. Malt được dùng trong sản xuất bia là loại malt được sản xuất từ các đại mạch hạt to, vỏ mỏng, hàm lượng protein thấp, độ hòa tan cao không gây khó khăn trong quá trình xử lý. Quá trình đường hóa cũng như lọc bã làm cho bia có độ trong cao, bảo quản được lâu. Các enzyme trong malt đại mạch là những nhân tố thực hiện việc chuyển hóa các chất trong thành phần hạt đại mạch (tinh bột “polyglucoza”, protein, celuloza,...) thành nguyên liệu mà nấm men có thể sử dụng được để tạo ra bia (các loại đường, các axit amine tự do, các vitamine, chất khoáng đa vi lượng,...).


Các phương pháp làm hạt nẩy mầm và làm khô hạt khác nhau sẽ cho ra các nguyên liệu làm bia khác nhau và sản phẩm bia có chất lượng khác nhau. Thành phần hóa học chính của malt khô tính theo % chất khô (CK) cho trong bảng 3.

Bảng 3. Thành phần hóa học của malt khô

Đối với công nghệ sản xuất bia, malt có tỷ lệ hàm lượng
Gluxit/protein = (70÷75)%CK / (10÷14)%CK là tỷ lệ cân đối thích hợp nhất cho công nghệ nấu bia, ứng với tỷ lệ này bia sản phẩm có màu sắc, mùi vị đặc trưng. Malt dùng để sản xuất bia phải đạt các thông số kỹ thuật (hóa lý và vi sinh) như ở bảng 4.

Bảng 4. Các thông số kỹ thuật của malt dùng sản xuất bia


Malt phải luôn được giữ trong kho khô ráo thoáng mát để phòng chuột, mối và các loại côn trùng phá hoại. Thường xuyên đảo trộn malt và thổi không khí khô vào kho, nhiệt độ bảo quản malt nhỏ hơn hoặc bằng 30°C để tránh sự hoạt động của men và vi sinh vật làm tiêu hao các chất dinh dưỡng trong malt, làm giảm chất lượng malt, đồng thời đảm bảo hoạt lực của các hệ men nhất là amilaza và proteaza.

3. Hoa houblon
Sau malt đại mạch và nước thì hoa houblon là nguyên liệu chính thứ ba cũng không thể thiếu được trong công nghệ sản xuất bia, là nhân tố góp phần quan trọng tạo ra mùi vị đặc trưng của bia (mùi thêm thơm dễ chịu, có vị đắng chát nhẹ) tạo màu vàng cho bia, tạo bọt và giữ bền độ bọt. Ngoài ra hoa houblon còn được sử dụng như một chất bảo quản cho bia (sát trùng, tăng tính ổn định cho các thành phần bia,...), làm trong bia tạo được kết tủa protein (albumine) khi chúng chưa được thủy phân hết.
Kiểm soát sâu bệnh hại cây trồng nhờ nano

Kiểm soát sâu bệnh hại cây trồng nhờ nano



Các hạt nano có nồng độ xác định có thể được sử dụng để kiểm soát các bệnh cây do vi khuẩn gây bệnh gây ra.

Tác dụng của các loại hạt nano Nano bạc: 
Đây là loại hạt nano được nghiên cứu nhiều nhất và được sử dụng cho hệ thống sinh học. Từ lâu nó đã được biết đến là có tác dụng ức chế và diệt khuẩn mạnh mẽ cũng như kháng khuẩn. Các hạt nano bạc, có diện tích bề mặt cao và phần lớn các nguyên tử bề mặt, có khả năng diệt nấm, vi khuẩn vượt trội so với kim loại bạc nguyên khối. Dung dịch keo nano bạc kháng nấm (đường kính trung bình 1,5nm), được kiểm nghiệm là rất hiệu quả trong việc chống lại bệnh nấm mốc tăng do Sphaerotheca pannosa Var rosae gây ra. Việc sử dụng nano bạc có thể loại bỏ các vi sinh vật không mong muốn trong đất trồng và cả hệ thống trồng cây thủy canh. Nó được sử dụng như thuốc phun là để chống nấm, nấm mốc, thối rữa và một số bệnh hại khác. Hơn nữa, bạc là chất kích thích tăng trưởng thực vật tuyệt vời. Khi phun nano bạc qua lá, ngoài tác dụng diệt vi khuẩn - nấm gây bệnh thì các hạt nano bạc còn giúp bộ lá tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng, do đó giúp tăng hiệu suất quang hợp của cây trồng.

Nano alumino silicat: 
Các công ty hóa chất hàng đầu hiện đang sản xuất các loại thuốc trừ sâu có kích thước nano. Một trong những nỗ lực đó là sử dụng các ống nano alumino-silicate với các hoạt chất. Ưu điểm của các ống nano alumino-silicate là khi được phun trên bề mặt của cây trồng được dễ dàng dính vào vỏ ngoài của côn trùng. Côn trùng chủ động hấp thụ các ống nano có chứa thuốc trừ sâu. Chúng có tính chất sinh học hoạt động mạnh hơn và tương đối an toàn hơn so với các thuốc trừ sâu thông thường.

Nano Titanium dioxide (TiO2): 
Titanium dioxide (TiO2) là chất màu trắng không độc hại được sử dụng rộng rãi trong sản xuất sơn, nghiên cứu, mực in, mỹ phẩm, gồm sứ, da thuộc và là một chất khử trùng rất mạnh so với chlorine và ozone. Vì TiO2 vô hại, nên nó được chấp nhận sử dụng trong các sản phẩm thực phẩm, với lượng tối đa 1% trọng lượng cuối cùng của sản phẩm. Kỹ thuật quang xúc tác TiO2 có tiềm năng lớn trong các ứng dụng nông nghiệp khác nhau, bao gồm bảo vệ thực vật vì nó không tạo thành các hợp chất độc hại và có hiệu quả khử trùng tốt. Các nhà khoa học đã cố gắng để cải thiện hiệu quả khử trùng bằng phiến mỏng TiO2 thông qua phương pháp nhuộm và các phương pháp thích hợp khác.

Các vật liệu nano carbon: 
Trong số các vật liệu nano, các vật liệu nano carbon (vi dụ như ống nano carbon đơn thành (SWCNT), ông nano carbon nhiều lớp (MWCNT), buckyball, graphene...), chiếm vị trí nổi bật trong các vật liệu ứng dụng công nghệ nano. Việc sử dụng và tiếp xúc với các vật liệu nano carbon ngày càng nhiều có thể gây ra những lo ngại về môi trường. Do đó, điều quan trọng là phải nghiên cứu một cách có hệ thống những ảnh hưởng mà các vật liệu nano cacbon đối với cây trồng.

Các hạt nano từ tính: 
Các hạt nano từ tính được ứng dụng để điều chế các loại thuốc theo các mục tiêu khác nhau trong y sinh học để điều trị các bệnh khác nhau (Mornet và cộng sự, 2004, Jurgons và cộng sự, 2006). Tuy nhiên, trong sinh học thực vật, ứng dụng đó vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu. Các vật liệu nano từ tính có thể được sử dụng để điều chế các loại hóa chất bảo vệ thực vật để điều trị các bệnh chỉ ảnh hưởng đến các vùng cụ thể của thực vật. Nếu sự di chuyển của các vật liệu nano từ tính có thể được theo dõi bên ngoài bằng cách sử dụng các nam châm điện công suất cao, thì nó sẽ có thể hướng chúng tới các khu vực cụ thể mà các hóa chất cần phải được giải phóng. Ưu điểm của việc sử dụng các vật liệu nano carbon (như SWCNTS và MWCNTs) kết hợp với chức năng hoá các hạt nano từ là không gian bên trong cho phép lọc các hoá chất bảo vệ thực vật phù hợp và các hạt nano từ có chức năng cho phép điều khiển từ bên ngoài các chuyển động của hạt nano trong các bộ phận của cây.
Phân hạch hạt nhân nguyên tử - một trong những phát hiện vĩ đại nhất của thế kỷ 20

Phân hạch hạt nhân nguyên tử - một trong những phát hiện vĩ đại nhất của thế kỷ 20

Ngày 6 tháng 1 năm 1939 hai nhà hóa học Otto Hahn và Fritz Strassmann lần đầu tiên đã công bố xác nhận nguyên tố bari (Barium (Ba)) là sản phẩm của bắn phá hạt nhân nguyên tử urani (Uranium (U)) với nơtron. Ngày 10 tháng 2 năm 1939 hai nhà vật lý Lise Meitner và Otto Frisch đã công bố lý giải vật lý thành công đầu tiên về hiện tượng phân hạch hạt nhân urani cùng với ước tính lượng năng lượng khổng lồ được giải phóng trong quá trình này là khoảng 200 megaelectron volts (200MeV). Lịch sử phát hiện phân hạch hạt nhân khá ly kỳ và bao gồm khá nhiều sai sót của nhiều nhà vật lý nổi tiếng. 

Phân hạch hạt nhân nguyên tử các nguyên tố nặng khi bị bắn phá (chiếu xạ) với nơtron (neutron), trong đó hạt nhân bị phân chia thành hai hoặc nhiều hạt nhân nhỏ hơn cùng vài sản phẩm phụ khác và giải phóng năng lượng, là một trong những khám phá vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Sự phân hạch của một hạt nhân urani sẽ giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ 200 MeV. Để so sánh: năng lượng giải phóng khi phân hạch chỉ 1 gam nguyên tố urani (=5*1023 MeV = 8*1010J) sẽ tương đương với năng lượng nhiệt khi đốt khoảng 2.5 tấn than. Phát hiện này đã thay đổi cục diện thế giới và thế giới quan của con người.

*1 eV = 1e.1V = 1,602.10-19 C.V = 1,602.10-19 A.s.V = 1,602.10-19 W.s = 1,602.10-19 J
Các bội số thường dùng là keV, MeV, GeV.
Minh họa phản ứng phân hạch hạt nhân (Nuclear Fission): Nơtron chậm bắn phá hạt nhân nguyên tử nguyên tố nặng khiến nó bị biến dạng và rồi bị chia tách thành hai phần (sản phẩm phân hạch). Khối lượng bị mất (tức là sự khác nhau giữa tổng khối lượng sản phẩm và tổng khối lượng tác chất ban đầu) được chuyển sang dạng nhiệt và bức xạ điện từ, và đặc biệt là nó giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ.

1. Sự khởi đầu của nghiên cứu hạt nhân (thời kỳ 1919-1935)
Phản ứng hạt nhân đầu tiên được thực hiện bởi Ernest Rutherford (a) năm 1919. Ông đã bắn phá hạt nhân các nguyên tử nitơ (14N) với hạt alpha (là hạt nhân của nguyên tử heli (4He)). Kết quả của phản ứng là hình thành hạt nhân oxy (17O) và hạt nhân hydro (1H, gọi là hạt proton). Phản ứng này kèm theo giải phóng năng lượng.
Tuy nhiên Rutherford lại không tin vào khả năng sản xuất năng lượng với quy mô lớn từ phản ứng hạt nhân! Ông đã công khai ý kiến của mình trong bài phát biểu có tựa đề "Phá vỡ nguyên tử" trong cuộc họp của Hiệp hội khoa học Anh năm 1933. Tuyên bố của ông đã được đăng lại trong tạp chí "Thời Đại" (Time) ngày 11 tháng 9 năm 1933: "Trong quy trình này, chúng ta có thể thu được nhiều năng lượng hơn là nhận được proton, nhưng chúng ta không thể tạo ra năng lượng theo cách này được (bằng phân hạch hạt nhân). Đó là một phương pháp sản xuất năng lượng rất kém và không hiệu quả, và bất kỳ ai tìm kiếm nguồn năng lượng bằng việc chuyển hóa nguyên tử đều là hão huyền. Nhưng chủ đề này rất thú vị về phương diện khoa học, bởi vì nó cho phép bạn nhìn vào cấu trúc bên trong nguyên tử”. 

Tạp chí Tự nhiên (Nature) xuất bản ngày 12 tháng 9 năm 1933 cũng đăng bình luận của Rutherford: "Những chuyển hóa nguyên tử này có lợi ích phi thường đối với các nhà khoa học, nhưng chúng ta không thể kiểm soát năng lượng nguyên tử ở mức độ có giá trị thương mại, và tôi tin rằng chúng ta không bao giờ có khả năng làm như vậy...Mối quan tâm của chúng ta về vấn đề này là hoàn toàn thuần túy về khoa học, và các thí nghiệm đang được tiến hành sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn cấu trúc của vật chất".

Không chỉ Rutherford, người được coi là cha đẻ của Vật Lý hạt nhân, mà cả các nhà khoa học nổi tiếng lúc đó như Niels Bohr­ (b) và Albert Eistein (c) cũng chia sẻ quan điểm về khả năng không thể khai thác sử dụng năng lượng nguyên tử trong thực tế. Trong một cuộc họp báo năm 1934 Einstein đã so sánh sự bắn phá hạt nhân với việc bắn vào những con chim hiếm trong bóng tối. Còn Bohr cho rằng cơ hội sử dụng được năng lượng nguyên tử là rất xa vời.

Các thí nghiệm bắn phá hạt nhân nguyên tử urani đầu tiên với hạt nơtron được tiến hành bởi Enrico Fermi (d) và các đồng nghiệp ở Roma vào năm 1934. Fermi là người đầu tiên nhận ra vai trò quan trọng của nơtron như một phương tiện để tạo ra các phản ứng hạt nhân. Các nơtron không có điện tích nên có thể tiếp cận hạt nhân nguyên tử mà không bị cản trở bởi lực cản Coulomb xung quanh hạt nhân. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1934, nhóm Fermi một cách ngẫu nhiên Fermi đã khám phá ra một đặc tính quan trọng của nơtron là các hạt nơtron nhiệt chậm đã bị hấp thụ (bị "bắt") bởi hạt nhân.

Urani là nguyên tố có số hiệu (số nguyên tử hay số điện tích) cao nhất (Z=92) được tìm thấy trong tự nhiên thời bấy giờ. Fermi nghĩ rằng việc bắn phá hạt nhân bằng hạt nơtron có thể được sử dụng để tạo ra các nguyên tố gọi là ‘siêu urani’ (các nguyên tố nặng hơn urani (transuranic elements)), tức là các nguyên tố có số hiệu lớn hơn số hiệu của urani. Cụ thể là chiếu xạ nơtron cho urani-238 (Z=92) sẽ tạo ra đồng vị urani-239 mà sau đó sẽ trải qua chuỗi phân rã beta và tạo nên nguyên tố X-239 với số hiệu Z=93. Tuy nhiên, khi bắn phá hạt nhân nguyên tử urani (Z=92) và thori (Z=90) với nơtron, họ quan sát thấy không chỉ một mà là vài loại phóng xạ beta có chu kỳ bán rã (T1/2) khác nhau mà không thể giải thích được một cách đơn giản là do sự phân rã của nguyên tố siêu urani. Ví dụ như là Fermi chỉ có thể chứng minh rằng nguyên tố với chuỗi phân rã beta với T1/2=13 phút không phải là bất kỳ nguyên tố nào giữa urani (Z=92) và chì (Z=86) trong bảng tuần hoàn. Ông đề xuất khả năng xuất hiện nguyên tố với số hiệu 93. Trong bài báo đăng trên tạp chí Tự nhiên năm 1934, Fermi viết: "...chúng tôi đã loại trừ khả năng phân rã beta với chu kỳ bán rã 13 phút là do các đồng vị của urani (92), protacti (91), thori (90), actini (89), radi (88), bismuth (83), chì (82). Bằng chứng phủ định về hiện diện bức xạ 13 phút trong các nguyên tố nặng cho thấy khả năng xuất  hiện nguyên tố có số nguyên tử có thể lớn hơn 92. Nếu đó là nguyên tố 93, nó sẽ có tính chất hóa học tương tự với mangan và rheni". 

Nhóm Fermi đã không kiểm tra sự hiện diện của các nguyên tố nhẹ hơn, bởi vì họ đã không tính đến khả năng phân tách hạt nhân urani thành hạt nhân nhẹ hơn. Trong bài thuyết trình trong buổi trao giải Nobel vào ngày 12 tháng 12 năm 1938, Fermi đã tuyên bố: "Chúng tôi kết luận rằng chúng là các nguyên tố có số hiệu lớn hơn 92. Ở Roma, chúng tôi gọi các nguyên tố 93 và 94 tương ứng là Ausenium và Hesperium". Chỉ 10 ngày sau bài thuyết trình tại giải Nobel của Fermi về các nguyên tố siêu urani, Otto Hahn (e) và Fritz Strassmann (f) tại Berlin đã tiếp cận kết quả lịch sử của họ về phát hiện bari là một sản phẩm phân hạch. Bari nằm giữa bảng tuần hoàn, là nguyên tố có số hiệu Z=56, tức là nhẹ chỉ bằng hơn nửa urani. 

Ida Tacke-Noddack (g) là người đầu tiên chỉ ra khả năng phá vỡ hạt nhân urani vào tháng 9 năm 1934. Noddack đặt dấu hỏi về kết quả của nhóm ở Roma trong bài báo của bà với tiêu đề "Về nguyên tố 93" đăng trong tạp chí Hóa học Ứng dụng. Bà bình luận: "Hạt nhân của nguyên tố nặng khi bị bắn phá bởi hạt nơtron sẽ bị phân tách thành nhiều đồng vị của các nguyên tố đã biết (trong bảng tuần hoàn) có số hiệu thấp hơn, chứ không phải là các nguyên tố gần sát cạnh với urani”. Tuy nhiên, dù bà là một nhà hóa học, bà đã không tiến hành thí nghiệm để chứng minh sự hiện diện của các nguyên tố như vậy, mà chỉ giới hạn ở việc đưa ra một giả thuyết. Bài báo của bà kg thu hút được sự quan tâm của giới khoa học, vì giả thuyết của bà dường như rất vô lý. Nhóm Fermi thực tế đã phân tách nguyên tử urani, nhưng họ lại không biết về điều đó. Lẽ ra nhóm Fermi có thể thấy bằng chứng về sự phá vỡ hạt nhân, vì ông sử dụng bộ đếm Geiger (dùng để phát hiện ra các đồng vị phóng xạ). Nhưng vì họ đã đặt một  lá nhôm mỏng giữa mẫu urani và máy đếm nên đã mất cơ hội phát hiện sản phẩm phân hạch có điện tích cao, có khả năng ion hóa mạnh mẽ và dễ bị hấp thụ. Cơ hội phát hiện hiện tượng phân hạch tuột khỏi tay Fermi.

2.  Nguyên cứu sản phẩm bắn phá hạt nhân urani và thori bằng hạt nơtron (thời kỳ 1935-1938)
Otto Hahn và Lise Meitner (h) đã làm việc cùng với nhau hơn 30 năm (từ cuối năm 1907 đến tháng 7 năm 1938) tại Viện Kaiser Wilhelm ở Dahlem gần Berlin (ngày nay là Viện Max Planck). Từ cuối năm 1934, họ nghiên cứu chuyên sâu về xác định các sản phẩm phóng xạ được tạo ra khi bắn phá hạt nhân urani bằng hạt nơtron. Sau khi chiếu xạ urani với nơtron, họ hòa tan mẫu và dùng phương pháp hóa học để phân tách ra các nguyên tố. Từ giữa năm 1935, Fritz Strassmann-một nhà hóa học trẻ đã cùng tham gia nghiên cứu với họ.

Trong những năm 1935-1938, nhóm Berlin xác định được thêm 9 sản phẩm có phân rã beta. Các nguyên tố này dường như là phù hợp với các nguyên tố từ 93 đến 97. Do đó, họ tin rằng chúng là những nguyên tố siêu urani. Họ cũng tiến hành kiểm tra nguyên tố với chu kỳ bán phân rã 13 phút của nhóm Fermi bằng phân tích hóa học. Cũng như Fermi, họ tin rằng đó là nguyên tố 93. Họ xuất bản khá nhiều bài báo về lĩnh vực này. Sau này Metner thừa nhận " ...Tôi nhận ra rằng những khám phá của Hahn ơvề bari là sản phẩm phân hạch] đã mở ra một hướngng khoa học hoàn toàn mới và cũng cho thấy những công việc trước đây của chúng tôi đã có rất nhiều sai sót". Ngày 13 tháng 7 năm 1938, Meitner buộc phải rời Berlin, trốn khỏi chế độ Đức quốc xã, và đến Stockholm.

Song song với nhóm Berlin, trong giai đoạn 1935-1938, Irène Julliot-Curie (i) cùng với Pavlé Savitch (j) tại Viện Radium ở Paris đã nghiên cứu đặc tính hóa học các sản phẩm phóng xạ từ bắn phá urani và thori bằng nơtron. Cuối năm 1937, nhóm ở Paris đã ngạc nhiên tìm thấy nguyên tố phóng xạ với chu kỳ bán rã 3,5 giờ. Đầu tiên họ nghĩ rằng đó là một đồng vị phóng xạ mới của thori. Tháng 3 năm 1938 Irène Curie đã phát hiện ra là nguyên tố này có hoạt tính như lantan. Trong bài báo xuất bản tháng 8 năm 1938, Curie viết: "…nguyên tố phóng xạ với chu kỳ bán rã là 3,5 giờ với các đặc tính hóa học tương tự như của đất hiếm…. Có vẻ là nó không phải là nguyên tố chuyển hóa vì có đặc tính rất khác với các nguyên tố chuyển hóa đã biết". Nhưng vì Irène Curie kg nghĩ tới khả năng về nguyên tố nhẹ là một sản phẩm phân hạch nên đã không hiểu rằng nguyên tố được phát hiện thực sự là lantan, nguyên tố ở giữa bảng tuần hoàn (Z=57), nên lại coi nó thuộc nhóm các nguyên tố siêu urani (Z>92) nhưng hàm chứa các đặc tính bất thường (là bởi vì nó có đặc tính hóa học tương tự lantan). Trong bài báo xuất bản tháng 10 năm 1938, bà mô tả: "... các hoạt tính của nguyên tố 3,5 giờ là của lantan…nếu nó là nguyên tố chuyển hóa thì nó phải chứa một số đặc tính dị thường trong tính chất hóa học".
Nếu họ dám khẳng định là họ đã phát hiện ra lantan, thì họ đã trở thành những người đầu tiên phát hiện ra phân hạch hạt nhân.
Ernest Rutherford và Phản ứng hạt nhân đầu tiên vào năm 1919

Ernest Rutherford và Phản ứng hạt nhân đầu tiên vào năm 1919

Năm 2019 là kỷ niệm 100 năm thí nghiệm phản ứng hạt nhân đầu tiên được Ernest Rutherford thực hiện vào năm 1919, và cũng là kỷ niệm 110 năm thí nghiệm chiếu xạ lá vàng dẫn tới việc thiết lập mô hình hành tinh nguyên tử của ông.
 
Phản ứng hạt nhân đầu tiên do Rutherford thực hiện vào năm 1919.

Ernest Rutherford là nhà vật lí người New Zeeland. Ông được coi là một trong những nhà khoa học lừng lẫy nhất mọi thời đại. Đóng góp của ông trong lĩnh vực nguyên tử được ví như là đóng góp của Darwin trong lịch sử tiến hóa, Newton trong cơ học, và Einstein trong thuyết tương đối tổng quát.

Ông đưọc coi là cha đẻ của vật lý hạt nhân. Ông hoàn toàn thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về thiên nhiên qua ba khám phá quan trọng: 1) ông giải thích vấn đề phóng xạ là sự phát xạ tự nhiên của các nguyên tử (chứ không phải là nguyên tử luôn ổn định như đã được giả định kể từ thời Hy Lạp cổ đại), 2) ông đã xác định cấu trúc của nguyên tử, đặt cơ sở cho thuyết hiện đại về cấu tạo nguyên tử, 3) ông là nhà giả kim thành công đầu tiên trên thế giới khi chuyển đổi nitơ thành oxy, hay nói cách khác là ông là người đầu tiên đã phân tách nguyên tử. 

Khởi đầu của lĩnh vực vật lý hạt nhân (từ những năm cuối thế kỷ 19)
Cho đến tận cuối thế kỷ 19, nguyên tử được coi là một quả cầu rắn không thể phân chia được. Từ “nguyên tử” (tiếng anh “atom”) có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp (atomos (ἄτομος)), có nghĩa là ‘không-thể-cắt’ được, khái niệm của các nhà triết học cổ đại Leucippus và Democritus từ những năm 460 - 370 trước Công Nguyên.

Sự khởi đầu của lĩnh vực vật lý hạt nhân đã được đánh dấu bằng việc khám phá ra một dạng bức xạ mới từ muối urani của Henri Becquerel (nhà khoa học Pháp) năm 1896, mà ông gọi là tia urani. Ông cũng khám phá ra rằng bức xạ urani bao gồm các tia được hấp thụ không đồng đều. Marie Curie đã đặt tên “phóng xạ” (radioactivity) để diễn tả hiện tượng phát xạ tự phát. Năm 1898 Piere Curie và Marie Curie đã phát hiện hai nguyên tố phóng xạ mới được gọi là poloni và radi (Becquerel cùng với Marie Curie và Pierre Curie đạt giải Nobel Vật lý năm 1903). Cũng trong năm này, trong thời gian làm việc tại phòng thí nghiệm Cavendish của trường Đại học Cambridge, Ernest Rutherford đã thông báo về sự tồn tại của hai tia phóng xạ trong bức xạ urani và chỉ ra một số tính chất của chúng. Ông đặt tên cho tia dễ dàng bị chặn lại hơn (hay là khó có khả năng đâm xuyên) là tia alpha còn tia dễ đâm xuyên hơn là tia beta, theo tên hai kí tự đầu tiên của bảng chữ cái Hi Lạp. (Tia alpha hay hạt alpha là hạt nhân nguyên tử heli phát xạ từ hạt nhân nặng để đạt trạng thái cân bằng. Tia beta hay hạt beta là các hạt điện tử (điện tích âm (electron) hoặc dương (positron) có năng lượng cao phát xạ trong quá trình phân rã hạt nơtron thành hạt prôton hoặc ngược lại của các hạt nhân các đồng vị không ổn định.) Rutherford cũng chứng minh rằng phóng xạ là một hiện tượng phân rã tự phát của hạt nhân. Năm 1900 Paul Villard (nhà khoa học Pháp) đã phát hiện thêm 1 dạng bức xạ mới. Năm 1903 Ernest Rutherford đặt tên cho nó là tia gamma. (Tia gamma hoặc bức xạ gamma là một bức xạ điện từ có tần số cực cao phát ra, chẳng hạn trong quá trình hạt nhân chuyển từ trạng thái có năng lượng cao xuống năng lượng thấp.)

Năm 1902-1903 ông cùng với Frederick Soddy (nhà hóa học người Anh đạt giải Nobel Hóa học năm 1921) đã đưa ra „thuyết phân rã” về phóng xạ, xem xét hiện tượng phóng xạ như quá trình nguyên tử chứ kg phải là quá trình phân tử. Lý thuyết được minh chứng bởi rất nhiều bằng chứng thực nghiệm, một số chất phóng xạ mới đã được phát hiện và vị trí của chúng trong hàng loạt các chuyển đổi đã được xác định.

Năm 1908, Rutherford được tặng giải thưởng Nobel hóa học “cho các công trình nghiên cứu về sự phân rã của các nguyên tố và hóa học của các chất phóng xạ”. Cũng trong năm này, ông đã chứng minh một cách thuyết phục điều mà ông đã nghi ngờ từ lâu: tia alpha hay hạt alpha chính là nguyên tử heli đã bị tước đi các điện tử của nó (tức là hạt nhân heli bao gồm hai prôton và hai nơtron (He(2+)).

Thí nghiệm chiếu xạ lá vàng Rutherford hay thí nghiệm Geiger-Marsden (năm 1909)
Năm 1909, dưới sự chỉ đạo của Ernest Rutherford, tại phòng thí nghiệm vật lý của Đại học Manchester, Hans Geiger (phụ tá của Rutherford, được biết đến nhiều nhất với tư cách là người đồng phát minh ra bộ đếm Geiger) và Ernest Marsden (sinh viên) thực hiện thí nghiệm chiếu dòng hạt alpha vào các lá vàng mỏng và đo số hạt alpha truyền qua và tán xạ. Kết quả đáng chú ý nhất xảy ra với lá vàng dày 60 nanomét (tức là bề dày khoảng 200 nguyên tử vàng): hầu hết các hạt alpha đi qua lá vàng mà không bị lệch hướng, một số hạt bị lệch hướng, và cứ khoảng chừng 8000 hạt thì có một hạt bị tán xạ ngược lại với góc tán xạ lớn hơn 90 độ. Rutherford đã mô tả lại kết quả này một cách đầy hình tượng: “Đó là sự kiện đáng chú ý nhất trong cuộc đời tôi. Điều này giống như khi bạn bắn một phát súng đại bác vào một mảnh giấy và viên đạn bay ngược trở lại trúng vào bạn”.

Kết quả này đã lật đổ giả thuyết trước đó về nguyên tử, mô hình "bánh pudding mận" của Joseph John Thomson (đạt giải Nobel Vật lý năm 1906). Nếu cấu trúc nguyên tử giống như bánh pudding mận, khi mà điện tích âm và điện tích dương trộn lẫn với nhau, giống như quả mận được trộn lẫn trong bánh, nó sẽ trung hòa điện tích và gần như không có lực tĩnh điện giữa nguyên tử và các hạt alpha, thì các hạt alpha sẽ đi xuyên qua lá vàng. Rutherford suy luận rằng sự phản xạ của hạt alpha đã cho minh chứng nguyên tử có một lõi nhỏ giống như là những lá chắn cứng đối với các hạt alpha. Hạt alpha có tốc độ rất lớn, khoảng 10.000 km/s. Để đẩy bật ngược được nó, thì phải có một lực đẩy tĩnh điện rất mạnh từ các điện tích dương của nguyên tử trong lá vàng. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi mà toàn bộ điện tích dương tập hợp lại trong một thể tích rất nhỏ. Năm 1911, Rutherford đã giải thích kết quả thí nghiệm dựa trên giả thiết rằng 1) phần mang điện tích dương rất nhỏ (về thể tích) và phân bố rất thưa thớt vì thế phần lớn các hạt alpha đi qua lá kim loại dễ dàng, 2) phần mang các hạt điện tích dương này phải có lượng điện tích rất lớn nên đã đẩy những hạt alpha đi gần nó đi lệch khỏi hướng hoặc ngược hướng ban đầu. Ông gọi đó là hạt nhân. Từ kết quả này, Rutherford đã đề xuất “mẫu hành tinh nguyên tử”: nguyên tử có cấu tạo rỗng chứa một hạt nhân nhỏ bé mang điện tích dương trong lõi với các điện tử chuyển động xung quanh nó trên những quỹ đạo khác nhau, giống như các hành tinh quay xung quanh mặt trời. Ông đã tìm thấy rằng xác xuất tán xạ hạt alpha tuân theo phương trình (1/(sin(theta/2)^4)) một cách chính xác. Từ đó ông tính được kích thước hạt nhân cỡ femtomét (10^(-15) m), tức là khoảng 100 nghìn lần nhỏ hơn so với kích thước nguyên tử cỡ Ångström (10^(-10) m). Tuy thể tích hạt nhân rất nhỏ, nhưng phần lớn khối lượng nguyên tử lại tập trung ở trong hạt nhân.

Kết quả tán xạ ngược ngày nay được ứng dụng phổ biến trong nguyên cứu vật liệu, gọi là phương pháp tán xạ ngược Rutherford (Rutherford backscattering), ví dụ như là để xác định thành phần hóa học các nguyên tố chứa trong các màng mỏng cũng như xác định độ dày của màng. Phương pháp này cũng đã được sử dụng để phân tích mẫu đất đá thu được từ bề mặt mặt trăng từ cuộc thám hiểm (Surveyor V) năm 1967. 
Chiếc bánh kem (với chiều dài và chiều rộng mỗi chiều hơn 1m) với hình ảnh Rutherford để chiêu đãi các đại biểu trong hội nghị quốc tế lần thứ 19 về phân tích chùm ion được tổ chức tại Cambridge năm 2009, nhân dịp kỷ niệm 100 năm cuộc thí nghiệm chiếu xạ lá vàng Rutherford.
Niels Bohr-người khởi đầu chuỗi phản ứng về phân hạch urani

Niels Bohr-người khởi đầu chuỗi phản ứng về phân hạch urani

Niels Henrik David Bohr là nhà vật lý người Đan Mạch nhận giải Nobel vật lý năm 1922 cho "thành tựu nghiên cứu về cấu trúc nguyên tử". Mô hình Bohr là mô hình nguyên tử mà chúng ta sử dụng trong giảng dạy môn vật lý cho tới nay. Bài viết này lược trích vai trò của ông liên quan tới phản ứng phân hạch urani, dẫn tới dự án Manhattan về chế tạo vũ khí hạt nhân.

Niels Henrik David Bohr (7/10/1885 – 18/11/1962)

Niels Bohr mang thông tin phân hạch urani đến Mỹ
Ngày 6 tháng 1 năm 1939 hai nhà hóa học Otto Hahn (a) và Fritz Strassmann tại Berlin lần đầu tiên đã công bố xác nhận nguyên tố bari (Ba) là sản phẩm của bắn phá hạt nhân nguyên tử urani (U) bằng nơtron, là bằng chứng hóa học xác nhận rằng nguyên tử urani bị phân tách (phân hạch) thành các nguyên tố nhẹ có điện tích và khối lượng chỉ khoảng một nửa của urani. Ngày 10 tháng 2 năm 1939, hai nhà vật lý Lise Meitner và Otto Frisch (cháu của Meitner) đã công bố lý giải vật lý thành công đầu tiên về hiện tượng phân hạch hạt nhân urani cùng với ước tính lượng năng lượng khổng lồ được giải phóng trong quá trình này là khoảng 200 megaelectron volts (200MeV).

Niels Bohr rời Copenhagen vào ngày 7 tháng 1 năm 1939 tới Mỹ để tiến hành loạt bài giảng tại Đại học Princeton. Trước khi Bohr rời khỏi ga xe lửa, Frisch đưa cho Bohr bản nháp của bài báo phân hạch hạt nhân. Trên tàu thủy Drottningholm đến Mỹ, Bohr đã thảo luận với Léon Rosenfeld (b) về lý giải về phân hạch hạt nhân của Meitner và Frisch, cũng như việc Hahn và Strassmann đã xác định được bari là sản phẩm phân hạch của urani. Trong vài ngày, Bohr đã phát triển một lý giải đầy đủ hơn về hiện tượng này. Rosenfeld sau đó đã nhớ lại: "Khi chúng tôi gặp nhau trên tàu Bohr đã nói: Tôi có trong tay bản thảo bài bo của Frisch do Frish đưa liên quan đến một khám phá mới rất quan trọng mà tôi vẫn chưa hiểu hết. Chúng ta phải xem xét nó!”. Bohr chấp nhận ngay kết luận về phân hạch vì đó là kết quả khẳng định được trực tiếp từ các thí nghiệm. Nhưng Bohr vẫn không hiểu tại sao hạt nhân bị phân tách ra. Sau chuyến đi kéo dài khoảng sáu ngày, Bohr đã tìm ra được lý giải. Và hóa ra nó cực kỳ đơn giản!”.
Ngày 16 tháng 1 năm 1939, tàu Drottningholm cập bến New York. Khi tới đại học Princeton, Bohr trao đổi với Albert Einstein (c) và John Wheeler (d). Nhưng Bohr quên dặn Rosenfeld giữ bí mật nên Rosenfeld ngay lập tức nói với mọi người về tin tức phát hiện phân hạch tại câu lạc bộ tạp chí và do đó từ Princeton, tin tức được truyền miệng đến nhiều nhà vật lý gần đó bao gồm cả Enrico Fermi (e) tại đại học Columbia. Fermi và các cộng sự ngay lập tức bắt đầu thực việc tìm các xung ion hóa nặng mà có thể nhận được từ quá trình phân hạch cũng như giải phóng năng lượng. Nhưng rồi Fermi rời Columbia để tham dự hội nghị tại Washington. Hội nghị này là "hội nghị Washington lần thứ 5 về vật lý lý thuyết", do Đại học George Washington và Viện Carnegie ở Washington đồng tài trợ và do George Gamow (f) và Edward Teller (g) tổ chức.

Bohr cũng được mời tham dự hội nghị này. Đêm trước hội nghị (25 tháng 1 năm 1939), Gamow gọi điện cho Teller và nói:  "Bohr đúng là điên rồ! Bohr nói rằng hạt nhân uranium bị phân tách!”.
Sáng ngày 26 tháng 1 năm 1939, thay vì phiên thảo luận về vật lý nhiệt độ thấp như trong kế hoạch, Bohr đã thuyết trình về phân hạch hạt nhân. Bohr và Fermi gọi urani là "Kẻ bị chia tách”. Vào đêm 28 tháng 1 năm 1939, thí nghiệm phân hạch đã được lặp lại thành công tại Viện Carnegie ở Washington, sử dụng nơtron phát ra từ liti (Li) khi bị bắn phá bởi deuteri (D) với năng lượng 1 MeV. Fermi, Bohr và khách hội nghị đã tận mắt quan sát một xung rất lớn trên máy hiện sóng từ các sản phẩm phân hạch. Sau này Teller hồi tưởng lại: "Thật không thể nào tin được: thí nghiệm này là một trong những thí nghiệm dễ thực hiện nhất. Thế mà phải mất ngần ấy năm để hiểu được chuyện gì đang thực sự xảy ra!”
Trong phòng 209 của tòa nhà ở góc đường số 19 và đường G tại Đại học George Washington có treo một tấm bảng đồng khắc dòng chữ: „Trong phòng này, vào ngày 26 tháng 1 năm 1939, Niels Bohr lần đầu tiên đã thông báo công khai về sự phân hạch urani thành bari cùng với lượng năng lượng giải phóng khoảng hai triệu Mega vôn từ một phân hạch”. Năm 2002, một tấm bảng bằng đồng mới đã được gắn ở cửa vào tòa nhà Hóa học và Vật lý trong khuôn viên đại học George Washington mô tả về thông báo về thời đại nguyên tử-sự kiện diễn ra vào ngày 26 tháng 1 năm 1939.
Bảng đồng kỷ niệm "Thông báo về thời đại nguyên tử” về sự kiện diễn ra vào ngày 26 tháng 1 năm 1939, gắn ở cửa vào tòa nhà Hóa học và Vật lý trong khuôn viên đại học George Washington.

Chuỗi phản ứng về phản ứng phân hạch urani
Trước khi cuộc họp ở Washington kết thúc, một số phòng thí nghiệm ở Mỹ đã xác nhận phân hạch thực nghiệm: tại Viện Carnegie ở Washington (vào ngày 28 tháng 1, gửi bài đăng ngày 4 tháng 2), tại Đại học John Hopkins (vào ngày 28 tháng 1, gửi bài đăng ngày 3 tháng 2), tại Đại học California (hai nhóm, gửi đăng vào ngày 31 tháng 1 và ngày 3 tháng 2). Bốn bài báo đầu tiên về thí nghiệm phân hạch cùng xuất bản trong cùng một số của Tạp chí Vật Lý (Physical Review, số 4 tập 55) ra ngày 15 tháng 2 năm 1939. Trong số tiếp theo (Physical Review, số 5 tập 55) xuất bản ngày 1 tháng 3 có thêm 2 bài đăng từ Đại học California, 1 bài từ viện Carnegie ở Washington và 1 bài từ đại học Colombia.

Nhóm Fermi tại Đại học Columbia là nhóm đầu tiên thực hiện phản ứng phân hạch tại nước Mỹ vào ngày 25 tháng 1 năm 1939, sử dụng máy gia tốc cyclotron 75 tấn nằm trong hầm đá bên dưới tòa nhà Vật lý, và thu được sự phân tách cực mạnh của urani và các bức ảnh thu được cho thấy rằng các đỉnh phóng điện cao tới hai trăm triệu volt. Nhưng bài báo của họ lại không phải là bài báo đầu tiên, mà xuất bản chậm hơn 2 tuần, vì họ chỉ gửi đăng vào ngày 16 tháng 2, nên bài báo của họ chỉ xuất bản vào ngày 1 tháng 3 năm 1939.

Tại Paris, vào ngày 16 tháng 1 năm 1939 Frédéric Joliot-Curie (h) đã biết được kết quả của Hahn và Strassmann về bari là sản phẩm phân hạch của urani. Vào ngày 26 tháng 1, ông đã thu được các mảnh phân hạch và ông công bố kết quả trên Comptes Rendus vào ngày 30 tháng 1 năm. Ông không biết về các bài báo của Meitner và Frisch cũng như các thí nghiệm của Frisch tại Copenhagen.
Bohr, với mục đích nhấn mạnh tầm quan trọng của khám phá của Meitner và Frisch cũng như các thí nghiệm của Frisch, đã gửi bài báo ngắn cho tạp chí Thiên nhiên (gửi ngày 20 tháng 1, tức là 4 ngày sau khi đến Mỹ, xuất bản ngày 25 tháng 2 năm 1939) và cho Tạp chí Vật lý (Physical Review, gửi ngày 7 tháng 2, đăng ngày 15 tháng 2 năm 1939. Cho đến cuối năm 1939, đã xuất hiện khoảng 100 bài báo về chủ đề phân hạnh urani.
Amiăng và những ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Amiăng và những ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Tất cả các loại amiăng kể cả amiăng trắng đều là chất gây ung thư cho con người.


Amiăng trắng là chất gây ung thư và amiăng có mặt ở đâu?
Amiăng là một nhóm khoáng chất tự nhiên dưới dạng sợi, chia thành 2 nhóm: Nhóm Serpentine có dạng xoắn, được gọi là Chrysotile (amiăng trắng) và nhóm Amphibole (Crocidolite amiăng xanh và Amosite amiăng nâu).

Tại Việt Nam, gần 80% lượng amiăng nhập khẩu được sử dụng để sản xuất tập lợp Fibro- ximăng (hay còn gọi là tấm lợp AC). Ngoài ra, amiăng có mặt ở một số vật liệu sản phẩm khác như cách nhiệt, cách điện, chống cháy, má phanh, tấm trần cách nhiệt, các hệ thống của hệ thống bảo ôn... Nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Nga (85%), Trung Quốc, Kazakhstan... Trong khoảng từ năm 2016 trở về trước. Việt Nam luôn đứng trong top 10 nước tiêu thụ amiăng nhiều nhất thế giới. Trung bình hằng năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 65.000 tấn amiăng nguyên liệu. Năm 2012, Việt Nam nhập gần 79.000 tấn amiăng, đứng thứ 6 trên thế giới, và đứng vào top 5 các nước châu Á sử dụng amiăng (từ năm 2016 đến nay, lượng amiăng nhập khẩu vào Việt Nam giảm dần, đến nay chỉ còn khoảng 25.000 tấn/năm). Thời gian, khi ngành công nghiệp sản xuất tấm lợp AC phát triển mạnh mẽ nhất (trước năm 2016) với sản lượng khoảng 100 triệu m2/năm, có khoảng 5.000 công nhân trực tiếp tiếp xúc với amiăng trong sản xuất tấm lợp AC. Tấm lợp AC được cung cấp và tiêu thụ chủ yếu cho hàng triệu người dân có thu nhập thấp ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa.

Những ảnh hưởng của amiăng đến sức khỏe con người
Tất cả các loại amiăng, kể cả amiăng trắng (Chrysotile) đã được khẳng định là có hại cho sức khỏe con người. Sau 40 năm nghiên cứu, từ năm 1973, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có đủ bằng chứng trên người và thực nghiệm để xếp tất cả các loại amiăng vào nhóm 1 là các chất gây ung thư ở người.

Các bằng chứng là rõ ràng và tiếp tục được tích lũy, cập nhật. Sau khi rà soát hàng trăm nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chí quốc tế, Tạp chí chuyên để số 100C của IARC (năm 2012) cũng đã kết luận: “mặc dù có sự khác biệt về mức độ độc hại trong các nghiên cứu của nhiều tác giả được công bố, nhưng kết luận chung là tất cả các loại amiăng, bao gồm cả amiăng trắng, đều gây ung thư và “không có ngưỡng an toàn cho các chất gây ung thư.


Cách thức amiăng gây hại đến sức khỏe con người
Amiăng xâm nhập vào cơ thể và gây hại chủ yếu qua đường hô hấp, khi người lao động và người sử dụng hút phải bụi có chứa amiăng phát tán trong môi trường. Các công việc phát sinh bụi chủ yếu trong quy trình sản xuất tấm lợp chứa amiăng như xé bao, nghiền, trộn; trong khoan, nổ mìn...; hay trong sử dụng tại cộng đồng khi người dân khoan, cắt, phá dỡ, dập các tấm lợp, vật liệu có chứa amiăng, sử dụng các vật liệu chứa amiăng để làm đường, đổ làm móng nhà....

Tác hại của amiăng đến sức khoẻ người lao động và cộng đồng được biết đến là gây bệnh bụi phổi - amiăng, ung thư phổi, ung thư trung biểu mô ác tính (màng phối, màng bụng, màng tim), mảng màng phổi, tràn dịch và dày màng phổi, ung thư thực quản, buồng trứng. Người tiếp xúc với amiăng thường phát bệnh sau khi tiếp xúc rất lâu, từ 20 - 30 năm, thậm chí lâu hơn, nên thường đến khi người lao động, người dân phơi nhiễm với amiăng (trong sản xuất và đời sống) nghỉ hưu mới mắc bệnh.

Amiăng là chất gây ung thư nghề nghiệp nhiều nhất, ước tính gây ra 1/2 số ca tử vong do ung thư nghề nghiệp trên thế giới. Gánh nặng bệnh tật toàn cầu do amiăng là mỗi năm có hơn 100.000 người chết và hơn 1,5 triệu người phải sống với bệnh tật. Số người chết do ung thư phổi là 41.000 người. Số người chết do ung thư trung biểu mô ác tính là 59.000 người. Amăng là nguyên nhân của 80% các trường hợp bị ung thư trung biểu mô ác tính ở người. Số người chết do ung thư trung biểu mô ác tính ngày càng gia tăng ở các nước phát triển đã sử dụng nhiều amiang trong quá khứ.
Nguồn gốc, đặc tính, ứng dụng, và độ rủi ro của chất phóng xạ polonium

Nguồn gốc, đặc tính, ứng dụng, và độ rủi ro của chất phóng xạ polonium

Chất phóng xạ polonium

Nguồn gốc của polonium
Nguyên tử polonium do hai vợ chồng Pierre và Marie Curie khám phá năm 1898. Lúc đó Marie Curie chỉ là một nữ sinh cộng tác với chồng, một nhà khoa học đã nổi tiếng rồi.

Năm 1896, một năm sau khi Pierre và Marie Curie kết hôn, William Röntgen khám phá ra tia X và Henri Becquerel nhận thấy uranium là phóng xạ tự nhiên. Đựơc tin này, Marie quyết định chọn phóng xạ làm đề tài nghiên cứu. Thời đó chưa có nguồn phóng xạ nhân tạo nên Pierre và Marie Curie phải chiết uranium từ quặng pitchblende. Sau khi chiết hết uranium từ quặng pitchblende thì hai vợ chồng nhận thấy rằng hãy còn một chất liệu nào đó phát xạ. Họ tiếp tục phân tích quặng pitchblende và phát hiện ra nguyên tử polonium có hoạt tính mạnh hơn 400 lần uranium. Để tưởng nhớ đến nước mẹ đẻ của Marie Curie, nước Ba-lan, nguyên tử mới này được đặt tên là polonium. Sau khi chiết hết polonium rồi, Pierre và Marie Curie lại khám phá thêm một nguyên tử khác, nguyên tử radium, có hoạt tính còn mạnh hơn nguyên tử polonium, mạnh tới 900 lần uranium.

Để có những nguyên tử uranium mà nghiên cứu phóng xạ, nữ sinh Marie Curie đã phải chiết uranium từ quặng pitchblende. Đây là một việc rất vất vả. Bà đã xử lý đến cả tấn pitchbende để chiết ra được có vài cân uranium. Thấy Marie làm việc khổ sở quá, Pierre đã phải giúp tay cô vợ mới cưới. Một khi có số lượng uranium đủ để khởi đầu nghiên cứu về phóng xạ, Pierre và Marie có thể bỏ qua nhận xét hãy còn "cái gì đó" vẫn phát xạ trong quặng. Nhưng vì muốn tìm hiểu "cái gì đó" là gì mà hai vợ chồng đã khám phá ra polonium rồi radium. Nhờ công lao cần cù và ý chí tìm hiểu đó mà năm 1903 Marie Curie trở thành phụ nữ đầu tiên mang học vị tiến sĩ trong lịch sử ngành đại học Pháp và là người đầu tiên, trong cả nam lẫn nữ, nhận hai giải thưởng Nobel.

Polonium là một nguyên tử hiếm đến nỗi không có thể phát hiện được với những máy đo nhạy nhất. Trong một tấn quặng pitchblende chỉ có chưa tới 100 micro-gram. Để có đủ polonium đáp ứng nhu cầu của kỹ nghệ hạt nhân, người ta phải sản xuất thêm polonium bằng hai cách. Phương pháp thứ nhất là bắn hạt neutron vào những nguyên tử bismuth. Nhờ có thêm một neutron, đồng vị bismuth Bi 209 trở thành đồng vị bismuth Bi 210. Đồng vị Bi 210 không ổn định và mau chóng phát ra một tia bêta để trở thành đồng vị polonium Po 210. Phương pháp thứ hai là dùng một máy tăng tốc để bắn hạt proton vào những nguyên tử bismuth. Nhờ có thêm một proton, đồng vị bismuth Bi 209 trở thành đồng vị polonium Po 210.