Showing posts with label Năng lượng tái tạo. Show all posts
Showing posts with label Năng lượng tái tạo. Show all posts
Nâng cao hiệu quả sử dụng điện với lưới điện thông minh

Nâng cao hiệu quả sử dụng điện với lưới điện thông minh

Lưới điện thông minh giúp tối ưu hóa công tác quản lý, chi phí vận hành lưới điện; đa dạng các nguồn phát điện; nâng cao hiệu quả sử dụng điện, đảm bảo chất lượng điện năng; thêm nhiều dịch vụ cho khách hàng…



Giải pháp cho hệ thống điện tích hợp nguồn năng lượng tái tạo
Lưới điện thông minh là một hệ thống lưới điện sử dụng công nghệ kỹ thuật số để giám sát và quản lý việc chuyển tải điện từ tất cả các nguồn phát điện nhằm đáp ứng nhu cầu điện luôn thay đổi của người dùng cuối cùng.

Lưới điện truyền thống có nhiều hạn chế như tiếp nhận nguồn điện tập trung lớn, quá trình vận hành mang tính thủ công, khó giám sát, kiểm soát, thông tin giao tiếp một chiều, dễ bị mất điện trong thời gian dài khi có sự cố, đặc biệt khách hàng có ít lựa chọn hơn. Trong khi đó, lưới điện thông minh có thể tích hợp nhiều nguồn điện phân tán lớn nhỏ, tự khôi phục hoặc tách lưới khi có sự cố, dễ quản lý vận hành, giám sát… đồng thời khách hàng có nhiều lựa chọn hơn cho nhu cầu của mình.

Tỷ trọng năng lượng tái tạo đang ngày càng tăng đặt ra những thách thức rất lớn về tính ổn định của hệ thống điện tại Việt Nam. Nguyên nhân do các nguồn điện từ năng lượng tái tạo là không chủ động, nguồn điện phát biến động phụ thuộc vào thiên nhiên (điện gió và điện mặt trời), thời gian phát điện từ gió và mặt trời cũng không ổn định. Bên cạnh đó, đặc thù của các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (gió, mặt trời) thường phân tán, có quy mô nhỏ. Vì vậy, khi nối với lưới điện quốc gia sẽ tác động đến tính ổn định của toàn hệ thống.

Trong khi đó, theo chuyên gia Manuel Loesch, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ thông tin FZI (Đức), hệ thống lưới điện tại Việt Nam được thiết kế trước đây phục vụ cho những giả định đến nay đã có những yếu tố không còn phù hợp. Để đảm bảo hiệu quả cho công tác quản lý, vận hành hệ thống điện trong quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, cần phải có những thay đổi đáng kể về cơ cấu hệ thống tổng thể lưới điện và cơ chế kiểm soát. Trong đó, ứng dụng các giải pháp công nghệ để vận hành lưới điện một cách thông minh theo hướng quản lý hiệu quả về nhu cầu, quản lý năng lượng dựa vào công nghệ thông tin và truyền thông, đo đếm điện một cách thông minh.

Dù đã có những kết quả bước đầu sau 7 năm thực hiện Lộ trình lưới điện thông minh nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, hệ thống điện hiện tại của Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức cơ bản như hạ tầng công nghệ thông tin còn yếu chưa đáp ứng vận hành điều độ theo thời gian thực; sai số dự báo công suất các nhà máy điện năng lượng tái tạo vẫn ở mức cao; công suất phát và khả năng truyền tải của lưới điện hạn chế; chi phí và phát thải tăng; dữ liệu chưa được lưu trữ và xử lý một cách phân tán, chưa tập trung. Điều này gây ra nguy cơ thiếu điện do không huy động hết tất cả các nguồn điện, nhất là năng lượng tái tạo, nguy cơ ô nhiễm môi trường... Bên cạnh đó, nhu cầu điện cao song vẫn sử dụng điện lãng phí, chưa hiệu quả làm giảm năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ước tính công suất nguồn điện năng lượng tái tạo cần xây dựng để thực hiện cam kết cắt giảm khí thải nhà kính của Việt Nam tại COP21

Ước tính công suất nguồn điện năng lượng tái tạo cần xây dựng để thực hiện cam kết cắt giảm khí thải nhà kính của Việt Nam tại COP21

Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về biến đối khí hậu lần thứ 21 (COP21) Việt Nam cam kết vào năm 2030 sẽ cắt giảm lượng khí nhà kính là 8% của tổng lượng phát thải khí nhà kính đối với kịch bản phát triển cơ sở và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế.

Một trong các giải pháp quan trọng nhất để thực hiện cam kết nói trên là phát triển sử dụng các nguồn và công nghệ năng lượng tái tạo. Bài viết này cho một ước tính về công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo cần phải xây dựng để có thể đạt được mục tiêu cắt giảm 8% lượng khí nhà kính (KNK) vào năm 2030.





1. Dự báo phát thải KNK đến 2030
Theo kết quả kiểm kê KNK trong các năm 2010, 2013 và 2014 do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, các nguồn phát thải và hấp thụ KNK ở Việt Nam phát sinh từ 5 lĩnh vực chính là: (1) Năng lượng; (2) Các quá trình sản xuất công nghiệp (IPPU); (3) Nông nghiệp; (4) Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và (5) Chất thải. Trong các lĩnh vực trên chỉ có lĩnh vực LULUCF là hấp thụ KNK, còn lại đều là các lĩnh vực phát thải KNK, trong đó năng lượng là lĩnh vực phát thải lớn nhất, chiếm tỷ lệ rất cao, trên 60% tổng lượng phát thải quốc gia (bảng 1). Như ta thấy, lượng phát thải KNK ở Việt Nam liên tục tăng lên với tốc độ từ 4%/năm đến 5%/năm. Đặc biệt, tỷ lệ lượng phát thải KNK do lĩnh vực năng lượng tạo ra rất lớn, từ 60% năm 2014 tăng lên 63,8%, 67,4% và 72,4% so với tổng phát thải vào các năm 2020, 2025 và 2030. Vì vậy, việc cắt giảm phát thải KNK trước hết cần tập trung vào lĩnh vực năng lượng.


Về con số tuyệt đối, đến năm 2030, tổng phát thải KNK (có LULUCF) là 888,9 triệu tấn CO2 tđ, trong đó lượng phát thải do lĩnh vực năng lượng tạo ra là 643,2 triệu tấn CO2 tđ. Theo cam kết của Chính phủ Việt Nam tại COP21 Paris, đến năm 2030, chúng ta sẽ cắt giảm 8% lượng phát thải so với kịch bản phát triển thông thường chỉ với nguồn lực trong nước. Điều này có nghĩa là, đến năm 2030, lượng tổng phát thải và lượng phát thải KNK đối với lĩnh vực năng lượng phải cắt giảm tương ứng là 71 triệu tấn và 51,5 triệu tấn.

2. Các giải pháp cắt giảm KNK
Các giải pháp để thực hiện cắt giảm KNK được đề ra trong các báo cáo NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) của Việt Nam bao gồm:

1) Nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng hay tiết kiệm năng lượng.
2) Tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng.
3) Thay đổi cơ cấu năng lượng trong công nghiệp và giao thông vận tải. Ngoài ra, còn có các giải pháp khác như: (i) Giảm nhẹ phát thải KNK thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; (ii) Quản lý và phát triển rừng bền vững, tăng hấp thụ CO2 và dịch vụ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với phát triển kinh tế; (iii) Quản lý chất thải.

Các giải pháp số 1) đến 3) trực tiếp liên quan đến lĩnh vực năng lượng. Dưới đây thử ước tính công suất điện NLTT cần phát triển đến năm 2030 để đáp ứng yêu cầu cắt giảm 8% KNK mà Việt Nam đã cam kết tại COP21 đối với lĩnh vực năng lượng.

3. Ước tính công suất NLTT cần lắp đặt
3.1. Cơ sở ước tính
Như đã nói ở trên, để cắt giảm 8% lượng KNK của lĩnh vực năng lượng vào năm 2030 thì cần phải cắt giảm 51,5 triệu tấn CO2 tương đương. Ta giả thiết rằng, để cắt giảm lượng phát thải KNK này, cần sử dụng đồng thời 3 giải pháp về năng lượng. Tùy thuộc vào đặc điểm, khả năng của mỗi giải pháp mà sự đóng góp tiềm năng cắt giảm KNK của chúng khác nhau. Trên cơ sở phân tích khả năng thực tế của từng giải pháp, chúng tôi đề nghị tỷ trọng cắt giảm KNK của các giải pháp năng lượng như sau:

(1) Giải pháp tiết kiệm năng lượng đóng góp cắt giảm 15% lượng KNK, tương ứng cắt giảm 4,12 triệu tấn CO2 tđ trong tổng số 51,5 triệu tấn CO2 tđ đối với lĩnh vực năng lượng;
(2) Giải pháp thay đổi cơ cấu năng lượng trong công nghiệp và giao thông vận tải: cắt giảm 5%, tương ứng cắt giảm 2,575 triệu tấn CO2 tđ;
(3) Giải pháp sử dụng các nguồn NLTT: cắt giảm 80%, tương ứng cắt giảm 41,2 triệu tấn CO2 tđ ; Với Hệ số phát thải CO2 trung bình K = 0,62kg CO2/kWh, có thể tính được lượng điện năng từ các công nghệ NLTT cần được sản xuất ra trong năm 2030 để cắt giảm được các lượng KNK nói trên.

3.2. Ước tính công suất NLTT phải lắp đặt năm 2030
Như thấy trên bảng 2, tổng điện năng các nguồn điện NLTT cần sản xuất trong năm 2030 phải là 66.451.613 MWh hay khoảng 66,452 tỷ kWh.


Đối với các nguồn và công nghệ NLTT, với điều kiện Việt Nam, vào năm 2030, các nguồn và công nghệ NLTT có thể tham gia vào sản xuất điện năng sẽ gồm: điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối và thủy điện nhỏ. Dựa trên tiềm năng thực tế ở Việt Nam, tính kinh tế của các công nghệ NLTT hiện nay, cơ cấu các loại nguồn điện NLTT nói trên được kiến nghị như sau: (1) Điện mặt trời: 52% ; (2) Điện gió: 25% và (3) Thủy điện nhỏ và điện sinh khối: 23% (bảng 3). Mỗi loại công nghệ này lại có hệ số công suất riêng, phụ thuộc vào tiềm năng nguồn NLTT tương ứng, loại công nghệ và đặc điểm tự nhiên ở Việt nam, như được cho trong bảng 3.

Từ các số liệu này ta có thể tính ra lượng điện năng các loại nguồn NLTT phải sản xuất ra (MWh), số giờ vận hành đầy công suất hàng năm và do đó tính được công suất các loại nguồn cần lắp đặt và vận hành đến năm 2030 (bảng 3).

Theo đó, đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện NLTT cần lắp đặt, vận hành là 39.329 MW, trong đó Điện mặt trời: 28.176 MW; Điện gió: 8.245 MW và Thủy điện nhỏ và Điện sinh khối là 2.908 MW. 3.3. So sánh với các chỉ tiêu của Quy hoạch phát triển Điện VII (Quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030).


Theo Quy hoạch điện VII thì đến năm 2030, tổng công suất Điện mặt trời, Điện gió và Thủy điện nhỏ, điện sinh khối là 27.195 MW, trong đó: Điện mặt trời: 12.000 MW; Điện gió: 6.000 MW và Thủy điện + điện sinh khối là 9.195 MW. Như vậy, tổng công suất ước tính trong bài viết này lớn hơn tổng công suất của Quy hoạch điện VII là 12.134 MW. Sự chênh lệch đối với từng loại công nghệ NLTT được cho trên hình 1, trong đó, công suất điện mặt trời và điện gió vào năm 2030 theo ước tính lớn hơn 2,3 lần và 1,4 lần so với các chỉ tiêu tương ứng của Quy hoạch điện VII. Riêng đối với điện sinh khối và thủy điện nhỏ, kết quả ước tính thấp hơn chỉ tiêu của Quy hoạch điện VII là 6.287 MW. Mặc dù chỉ là ước tính, tuy nhiên sự ước tính này dựa trên các cơ sở thực tế về tiềm năng các nguồn NLTT, về sự tiến bộ của các công nghệ NLTT và có tính đến sự dịch chuyển kinh tế, xã hội… của nước ta, nên chúng tôi cho rằng các kết quả ước tính là khá tin cậy và khách quan, là các kết quả nên nghiêm túc tham khảo.
Giải pháp năng lượng xanh cho ngôi nhà xanh, thành phố xanh

Giải pháp năng lượng xanh cho ngôi nhà xanh, thành phố xanh

1. Thuật ngữ “Năng lượng xanh” 
Gần đây, thuật ngữ “xanh” là một thuật ngữ đang rất thời sự. Chúng ta vẫn thường nghe thuật ngữ này qua các mệnh ngữ như: ‘nền kinh tế xanh”, “năng lượng xanh”, “thành phố xanh”, “ngôi nhà xanh”, v.v… Vậy, thuật ngữ “xanh” trong các mệnh ngữ trên có ý nghĩa chính là gì?

Ý nghĩa chính của thuật ngữ “xanh” là không có hoặc có ít nhất khí nhà kính (KNK - như CO2, CH4, N2O, HCFs, …), là các loại khí đang làm cho khí hậu quả đất chúng ta nóng lên, dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu rất nguy hiểm. Khi nói “phát triển nền kinh tế xanh” có nghĩa là phát triển nền kinh tế trong đó mọi hoạt động kinh tế đều được yêu cầu không có hoặc phát thải KNK tối thiểu; “năng lượng xanh” là các nguồn NL sạch, không phát thải hoặc phát thải rất ít KNK như các nguồn năng lượng mặt trời (NLMT), năng lượng gió hay nói chung là các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT); “thành phố xanh” là thành phố hiện đại, thông minh, nơi mà mọi hoạt động của thành phố đều phải được kiểm soát về phát thải KNK và phát thải KNK cần phải được giảm thiểu, v.v… Đôi khi “thành phố xanh” cũng còn có ý là thành phố nhiều cây xanh, tỷ lệ cây xanh trên đầu người cao. Và điều này cuối cùng vẫn có ý nghĩa là thành phố có phát thải KNK thấp (do cây xanh hấp thụ CO2 và tạo ra sinh khí O2). 

Theo các báo cáo kiểm kê KNK được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện (các báo cáo BUR1- 2010, BUR2-2013 và BUR3-2014) thì ở Việt Nam có 5 lĩnh vực phát thải và hấp thụ KNK chính. Đó là: (i) năng lượng; (ii) các quá trình công nghiệp; (iii) nông nghiệp; (iv) sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và (v) chất thải. Lượng phát thải KNK (qui về lượng CO2 tương đương) được kiểm kê đến 2014 và dự báo cho đến năm 2030 được cho trong bảng 1.



Từ bảng 1 thấy rằng, phát thải trong lĩnh vực năng lượng (khai thác, chế biến và sử dụng) chiếm tỷ lệ áp đảo, đặc biệt là trong những thập niên sắp đến. Nói riêng, năm 2014, tỷ lệ phát thải KNK của lĩnh vực năng lượng là 62,2% và tăng lên đến 64% và 72,4% vào các năm 2020 và 2030. Hình 1 còn cho thấy xu thế tăng phát thải KNK của các lĩnh vực và của tổng phát thải đến năm 2030. 

Như vậy, có thể nói rằng, lĩnh vực năng lượng là thủ phạm chính gây ra phát thải KNK. Và do đó, để giảm phát thải KNK thì cần phải sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời phải tăng cường phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng sạch, NLTT. Đối với các thành phố, nơi mà các lĩnh vực nông nghiệp và LULUCF có vai trò rất nhỏ và là nơi có mật độ cư dân rất cao, thì tỷ lệ phát thải KNK của lĩnh vực năng lượng còn cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung trên cả nước như chỉ ra trên bảng 1 do nhu cầu tiêu thụ năng lượng cao, do mật độ phương tiện giao thông dày đặc và do lượng rác thải thải ra hàng ngày rất lớn. Vì vậy, có thể nói rằng, một thành phố xanh phải là một thành phố sử dụng năng lượng tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất và sử dụng các nguồn năng lượng sạch phổ biến nhất.

Như ta biết, một trong những thành phần chính của một thành phố là các ngôi nhà bao gồm các ngôi nhà ở của các hộ gia đình, các tòa nhà công sở, các tòa nhà ở các khu công nghiệp và thương mại, các nhà kính phục vụ sản xuất nông nghiệp sạchv.v…. Một thành phố xanh tất nhiên phải bao gồm các ngôi nhà xanh, và theo cách hiểu đã nói ở trên, thì các ngôi nhà xanh phải là các ngôi nhà sử dụng các nguồn và công nghệ năng lượng xanh.

2. Một số giải pháp công nghệ xanh có thể thực hiện trực tiếp cho ngôi nhà
Sử dụng nguồn và công nghệ năng lượng xanh cho các ngôi nhà là nội dung cốt lõi để tạo lập ngôi nhà xanh. Dưới đây sẽ trình bày kinh nghiệm được tổng kết từ các hoạt động xây dựng thành phố xanh, ngôi nhà xanh trên thế giới thông qua việc ứng dụng một số giải pháp khá đơn giản, đầu tư ban đầu không lớn, nhưng hiệu quả về giảm phát thải KNK lại rất đáng kể. Các giải pháp này thuộc về hai nhóm công nghệ. Đó là nhóm công nghệ năng lượng tái tạo và nhóm tiết kiệm năng lượng.

(2.1). Lắp đặt nguồn điện mặt trời trên mái nhà
Hiện nay, do công nghệ sản xuất pin mặt trời tiến bộ rất nhanh chóng, nên suất đầu tư và do đó giá điện mặt trời (ĐMT) đã và đang giảm một cách kịch tính. Suất đầu tư các hệ nguồn ĐMT trên thị trường thế giới và Việt Nam chỉ còn trên dưới 1000 USD/kWp. Ngoài ra, gần như tất cả các nước trên thế giới đều có các chính sách hỗ trợ phát triển NLTT nói chung và ĐMT nói riêng, nên thực tế, lợi ích từ các dự án ĐMT mang lại còn lớn hơn nhiều.

Nguồn ĐMT có dàn pin mặt trời lắp vào mái nhà gọi là nguồn ĐMT mái nhà (xem ảnh bên). Những lợi ích trực tiếp của việc lắp đặt nguồn ĐMT mái nhà bao gồm: (1) không phải sử dụng đất, nên giảm được chi phí mua/thuê mặt bằng lắp đặt dàn pin; (2) ngôi nhà sẽ mát hơn do NLMT đã bị dàn pin hấp thụ; (3) chi phí tiền điện hàng năm giảm và thậm chí còn có thể tăng thu nhập thêm nếu hệ nguồn công suất đủ lớn. Việc đầu tư xây dựng nguồn ĐMT chính là đầu tư vào nguồn năng lượng sạch, không phát thải KNK, và do đó góp phần tạo ra các ngôi nhà xanh và thành phố xanh.

Với một thành phố lớn như Tp. Hồ Chí Minh, với khoảng gần 2 triệu hộ (8 triệu dân), nếu chỉ 20% số hộ lắp đặt nguồn ĐMT, với công suất trung bình 4kWp/hộ, thì tổng công suất ĐMT mái nhà của cả thành phố sẽ là 1,6 triệu kWp. Với bức xạ NLMT trung bình ngày ở Tp. HCM là 4,8 kWh/m2/ngày thì lượng điện năng phát ra từ các hệ nguồn ĐMT mái nhà sẽ khoảng 2,8 tỷ kWh/năm (= 1,6 triệu kWp x 4,8 x 365) và tất nhiên lượng điện này thay thế cho chừng ấy điện năng được sản xuất từ nguồn nhiên liệu hóa thạch. Ước lược một cách sơ bộ, với hệ số phát thải trung bình 0,6 kg CO2/kWh, thì lượng CO2 giảm được sẽ khoảng 1.682 triệu tấn/năm. Một con số rất ấn tượng. 

Cần lưu ý rằng, với suất đầu tư như đã nói ở trên, tổng chi phí đầu tư cho một hệ nguồn ĐMT hộ gia đình 4kWp trung bình chỉ khoảng 85 triệu đồng, một số tiền mà phần lớn các hộ gia đình ở các thành phố có thể đầu tư. Ngoài ra, theo Thông tư số 16/2017/TT-BCT, ngày 12 tháng 9 năm 2017 “Quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời” thì thủ tục lắp đặt nguồn ĐMT nối lưới cũng khá đơn giản và thuận lợi. Theo tính toán, thì thời gian hoàn vốn đối với các nguồn ĐMT ở khu vực Miền Nam trong khoảng 8 đến 10 năm, trong khi tuổi thọ của hệ nguồn là từ 20 đến 25 năm.

(2.2). Lắp đặt thiết bị nước nóng NLMT
Lắp một thiết bị nước nóng NLMT (TBNNMT) cũng là một giải pháp rất hiệu quả để làm giảm chi phí tiêu thụ năng lượng trong ngôi nhà của chúng ta một cách đáng kể. Một TBNNMT hộ gia đình thường có diện tích thu NLMT khoảng 2m2 với dung tích bình chứa khoảng 200 lít. Tổng chi phí đầu tư cho một TBNNMT này chỉ vào khoảng (15 – 18) triệu đồng. Việc mua sắm và lắp đặt thiết bị rất dễ dàng, đơn giản vì thị trường TBNNMT ở nước ta khá phát triển.

Ta hãy ước tính sơ bộ lượng giảm tiền điện và giảm phát thải CO2 đối với thiết bị trên. Cũng giả sử rằng, TBNNMT lắp đặt tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh, nơi có cường độ NLMT bằng 4,8 kWh/m2/ngày. Hiệu suất biến đổi năng lượng của các TBNNMT điển hình là 40% (thực tế có thể cao hơn). Như vậy, mỗi ngày TBNNMT với diện tích mặt thu 2m2 tạo ra khoảng 3,8 kWh từ NLMT, và do đó hàng năm TBNNMT này sản xuất ra khoảng 1.387 kWh, tức là đã giảm được tiền mua điện (với giá trung bình 1.700 đ/kWh) là khoảng 2,4 triệu đồng. Như vậy, thời gian hoàn vốn trong khoảng (6,4 – 7,5) năm. Lượng phát thải CO2 giảm được hàng năm là 832 kg cho một TBNNMT. Nếu 20% các hộ gia đình ở Tp. Hồ Chí Minh (400.000 hộ) sử dụng TBNNMT nói trên thì lượng điện tiết kiệm hàng năm sẽ cũng rất lớn và bằng gần 555 triệu kWh. Lượng phát thải KNK giảm khoảng 333 triệu tấn CO2¬ tương đương trong một năm.

(2.3). Lắp đặt máy phát điện gió mini
Khi nghĩ về máy phát điện gió, thường ta nghĩ ngay đến các cánh đồng điện gió rất lớn với các cột trụ cao hàng trăm mét và các tua bin gió có đường kính hàng chục, hàng trăm mét. Nhưng cũng cần biết rằng, thực tế còn có thị trường các loại máy điện gió mini có công suất nhỏ hơn, từ hàng trăm Oát (W) đến vài chục ki-lô-oát (kW) sử dụng cho các ngôi nhà nhỏ. Giá của các máy phát điện gió mini cho hộ gia đình biến đổi trong một khoảng rất rộng. Một số hộ còn có thể tự tìm mua vật tư, vật liệu, phụ tùng ở các cửa hàng địa phương và chế tạo, lắp đặt riêng cho nhà mình. Một số hộ khác mua đồng bộ thiết bị và thuê những công ty chuyên nghiệp lắp đặt trọn gói để bổ sung vào điện năng được mua từ lưới điện địa phương.

Khả năng sản xuất điện của các máy điện gió mini biến đổi cũng nhiều như giá cả của chúng. Nhiều hộ chỉ sử dụng máy điện gió phát điện bổ sung khoảng (10- 15)% tổng nhu cầu năng lượng của gia đình. Nhưng cũng có một số hộ sử dụng máy điện gió công suất lớn hơn, có giá đến gần 100 triệu đồng và có thể cung cấp khoảng 90% nhu cầu điện của hộ.

(2.4). Lắp đặt hệ thống thu gom nước mưa
Các hệ thống thu gom nước mưa là các hệ cơ học cực kỳ đơn giản. Nó được nối với hệ máng, mương hoặc hệ thu gom nước mưa của mái nhà và được tích trữ vào trong các thùng hoặc bể để sử dụng sau đó cho các mục đích làm nước ăn, tắm rửa, lau nhà cửa, tưới vườn cây, v.v... Các hệ thống này là rất rẻ và các hộ có thể tự mua vật tư và tự lắp đặt. Còn nếu ký hợp đồng để xây dựng hệ thu gom nước mưa thì tổng chi phí cũng chỉ từ vài vài triệu đến chục triệu đồng. Sử dụng hệ thống thu gom nước mưa giúp giảm tiền mua nước, giảm điện năng để bơm nước, v.v… và do đó cũng là một giải pháp góp phần giảm phát thải KNK.

(2.5). Lắp đặt thiết bị giám sát năng lượng (Energy Monitor)
Một trong các điều dễ thực hiện nhất là lắp đặt một Bộ giám sát năng lượng (energy monitor). Các Bộ giám sát năng lượng hộ gia đình dễ sử dụng và rẻ, nhưng nó cho phép biết được hàng phút hiện trạng sử dụng năng lượng của ngôi nhà. Thiết bị này làm việc bằng cách gắn (nó) vào cáp điện chính đi vào ngôi nhà và truyền các tín hiệu vô tuyến (wireless) đến một màn hình chỉ thị lượng điện năng đã sử dụng hoặc cũng có thể kết nối với Smartphone của chủ hộ hay thành viên trong gia đình, và do đó, ở bất kỳ nơi đâu (có internet) và bất kể thời gian nào cũng có thể biết được tình trạng sử dụng điện trong ngôi nhà.

Trong một nghiên cứu do British Isles thực hiện, các chủ hộ ngôi nhà có lắp Bộ giám sát năng lượng tiết kiệm được (10- 15)% năng lượng sử dụng hàng năm bằng cách lắp đặt thiết bị không đắt và đơn giản. Giá của một Bộ giám sát năng lượng chỉ trong khoảng từ 460.000 đến 3.400.000 đồng (20 đến 150 USD). Với số năng lượng tiết kiệm hàng năm nói trên thì thời gian hoàn vốn chỉ là 6 tháng.

(2.6). Chọn mua các thiết bị điện có dán nhãn tiết kiệm năng lượng
Các thiết bị dán nhãn tiết kiệm năng lượng đang trở nên rất phổ biến trong thời gian gần đây và được khách hàng rất quan tâm lựa chọn. Một thiết bị dán nhãn năng lượng, nói chung, tiêu thụ ít năng lượng hơn so với các thiết bị cùng loại không được dán nhãn. Ví dụ, mua một tủ lạnh dán nhãn năng lượng sẽ tiết kiệm được khoảng hơn 15% năng lượng so với tủ lạnh cùng loại không dán nhãn năng lượng trên thị trường. Một máy giặt dán nhãn năng lượng cũng sẽ tiêu thụ năng lượng ít hơn so với máy giặt cùng loại cũ không có nhãn tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, khi sử dụng máy giặt dán nhãn năng lượng thì áo quần giặt chậm cũ hơn, màu của áo quần cũng bền hơn và thời gian sấy khô ngắn hơn. Tất cả các ưu điểm đó cộng lại làm tiết kiệm đến hơn 50% năng lượng, và do đó giảm hóa đơn tiền điện hàng năm, so với các mẫu máy giặt cũ (thường đồ giặt được cho vào từ phía trên) không dán nhãn tiết kiệm năng lượng.
Vấn đề kỹ thuật năng lượng gió ngoài khơi

Vấn đề kỹ thuật năng lượng gió ngoài khơi

Ngày nay năng lượng gió (NLG) nói chung và NLG trên biển (ngoài khơi) nói riêng, một trong những năng lượng tái tạo được sử dụng ngày càng rộng rãi và trở thành xu thế chung của thế giới khi công nghệ xản suất và lắp đặt được hoàn thiện, chi phí lắp đặt ngày càng giảm so với những năm đầu phát triển. Các nước công nghiệp phát triển đã đề ra chiến lược khai thác NLG ngoài khơi tích cực hơn trong tương lai và thay thế dần các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, thuỷ điện, hạt nhân, …



I. Sự phát triển năng lượng gió biển ngoài khơi trên thế giới
1.1. Công suất lặp đặt NLG
Châu Âu là khu vực đi đầu trong ngành công nghiệp NLG ngoài khơi, trang trại gió (wind farm – nhà máy điện gió) ngoài khơi đầu tiên được lắp đặt vào năm 1991 tại Vindeby ở miền Đông Đan Mạch, tổng công suất gần 5 MW. Nhà máy điện gió Vindeby gồm 11 tuabin trên bờ, mỗi tuabin tạo ra 450 kW. Được tháo dỡ vào năm 2017, Vindeby đã mở đường cho các trang trại gió ngoài khơi trên khắp châu Âu.

Những khu vực có tốc độ gió trung bình trên 7 m/s và độ sâu nước tương đối nông, dưới 50 m là điều kiện lý tưởng cho phát triển NLG gió ngoài khơi. Năm 2016, Vương quốc Anh là nơi có ngành công nghiệp NLG gió ngoài khơi lớn nhất thế giới, với công suất tích lũy 8,5 GW và chi phí thấp nhất thế giới.

Hình 1 trình bày các quốc gia có tỷ lệ tham gia của NLG ngoài khơi cao nhất thế giới. Ngoài vương quốc Anh, các nước Bỉ, Đan Mạch, Đức và Hà Lan cũng là những nước Châu Âu có sự tăng trưởng đáng kể của ngành NLG ngoài khơi, nơi có thị phần công suất lắp đặt lớn nhất toàn cầu hiện nay.
Ngoài ra, Trung Quốc đã liên tục phát triển ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi, thêm 1.6 GW vào năm 2018. Tính đến tháng 9 năm 2019, công suất gió ngoài khơi toàn cầu đạt khoảng 25 GW, tương đương với khoảng 26 tỷ đô la đầu tư hàng năm. Tuy nhiên, Cơ quan Năng lượng tái tạo Quốc tế (IRENA) lưu ý rằng gió ngoài khơi sẽ cần tăng gấp 10 lần vào năm 2030 (lên 228 GW) để hỗ trợ chuyển đổi ngành điện cần thiết để đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Biến Đổi khí hậu toàn cầu năm 2015 được ký kết tại Pari, Pháp.

Hình 1. Các quốc gia có tỷ lệ tham gia của NLG ngoài khơi cao nhất

1.2. Chi phí đầu tư
Cho đến gần đây, chi phí vẫn là rào cản chính đối với sự tăng trưởng của NLG gió ngoài khơi. Năm 2015, chi phí sản xuất điện quy dẫn (LCOE) cho các dự án điện gió ngoài khơi dao động từ 150 - 200 USD/MWh, gấp khoảng ba đến bốn lần so với điện gió trên bờ. Tình hình đã thay đổi đáng kể giữa năm 2016 và 2017 khi một loạt các cuộc đấu thầu cạnh tranh ở châu Âu đưa ra mức giá dưới 100 USD/MWh, đỉnh điểm là các dự án đấu thầu vào thị trường thương mại mà không có bất kỳ hình thức trợ cấp nào, bắt đầu từ Hà Lan.

Trong năm 2017, giá thầu tại Hoa Kỳ cho trang trại gió ngoài khơi 30 MW giảm xuống mức thấp nhất là 65 USD/MWh. Vào cuối tháng 9 năm 2019, ở Vương quốc Anh đã đưa ra mức giá thấp nhất trong lịch sử 39,65 bảng/MWh (49,6 USD/MWh) giảm 30% so với phiên đấu giá trước đó được tổ chức vào năm 2017.

Hình 2 minh họa xu hướng giảm chi phí cho các dự án NLG ngoài khơi mới có thời gian vận hành đến năm 2025. Với những sự sụt giảm này của LCOE, NLG gió ngoài khơi nằm trong phạm vi cạnh tranh của than mới (60-143 USD/MWh), hạt nhân (112-183 USD/MWh) và các dự án điện khí chu trình hỗn hợp (42-78 USD/MWh).

Hình 2. Xu hướng của LCOE ở các quốc gia có tỷ lệ tham gia của NLG ngoài khơi cao nhất

Tốc độ và mức độ giảm chi phí NLG gió ngoài khơi đã khiến một số nhà quan sát kết luận rằng ở một số thị trường châu Âu, gió ngoài khơi sẽ trở thành hình thức rẻ nhất của thế hệ năng lượng mới vào đầu năm 2022. Giá giảm được điều khiển bởi một loạt các yếu tố, bao gồm Tuabin lớn hơn và hiệu suất lớn hơn, trang trại gió lớn hơn, tiếp cận nguồn tài nguyên gió ngoài khơi tốt hơn, tài chính chi phí thấp hơn, chuỗi cung ứng phát triển hơn, áp lực giá từ đấu thầu cạnh tranh và sự xuất hiện của các nhà phát triển dự án lớn hơn.

1.3. Công nghệ tuabin điện gió biển
Đầu những năm 2000, Vương quốc Anh đã áp dụng các tuabin gần bờ lớn nhất lúc bấy giờ (2 MW) và chuyển đổi chúng cho môi trường ngoài khơi. Các tàu lắp đặt, cụ thể là xà lan tự nâng, được đưa vào từ ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi nhưng hạn chế cả về khả năng nâng và tầm với. Các dự án ban đầu rất tốn kém và mất nhiều thời gian để xây dựng hơn dự kiến, vì các nhà phát triển không quen với các yêu cầu hậu cần tương đối phức tạp của việc lập kế hoạch và thực hiện các dự án trên đại dương.

Theo thời gian, NLG ngoài khơi phát triển thành một ngành công nghệ riêng biệt, chuyên biệt. Tuabin ngoài khơi hiện được thiết kế đặc biệt để giảm yêu cầu bảo trì do chi phí tiếp cận hàng hải tương đối cao. Đồng thời, các trang trại gió ngoài khơi phải chịu ít hạn chế hơn so với gió trên bờ, bao gồm áp lực sử dụng đất, lo ngại về cảnh quan và hạn chế về giao thông hay cơ sở hạ tầng. Do đó, tuabin gió ngài khơi đã được phát triển thành những bộ máy quay lớn nhất trên hành tinh (xem hình 3), có khả năng tạo ra các yếu tố công suất cao hơn nhiều so với “anh em họ” trên bờ.

Tính đến tháng 9 năm 2019, các tuabin MHI Vestas 9,5 MW là tuabin được lắp đặt lớn nhất trên thế giới, với sải cánh quạt dài hơn một chiếc máy bay Airbus A380. Tháng 10 năm 2019, General Electric đã hoàn thành việc lắp đặt thử nghiệm mẫu tua bin Haliade-X 12 MW tại cảng Rotterdam (Hình 4), trị giá 400 triệu đô la cho 3-5 năm thử nghiệm. Các thiết kế tua bin trong dải 13 đến 15 MW dự kiến sẽ được thương mại vào giữa những năm 2020.

Hình 3. Gia tăng kịch thước tua bin gió theo thời gian

Hình 4. Thông số kỹ thuật của tua bin Haliade-X 12 MW

Việc mở rộng phát triển NLG ngoài khơi ra biển sâu đang gia tăng. Hình 5, Hình 6 và Hình 7 phía dưới cho thấy sự gia tăng độ sâu cũng như khoảng cách xa bờ của các tua bin gió ngoài khơi được lắp đặt. Các tua bin ngoài khơi được lắp đặt xa nhất cách bờ gần 40 km, ở độ sâu nhất lên đến 40-50 m.


Sự phân bố các tuabin gió ngoài khơi khu vực châu Âu theo độ sâu của nước và khoảng cách từ bờ biển được thể hiện trong Hình 7. Các điểm có mật độ cao nhất hơn 400 tuabin gió được lắp đặt, khu vực có mầu đỏ được xác định ở độ sâu khoảng 15 m đến 20 m và khoảng cách từ bờ biển vào khoảng từ 15 km đến 20 km.

1.4. Tuabin gió nổi ngoài khơi – cách mạng điện gió biển
Những sự đổi mới mạnh mẽ về công nghệ trong xây dựng các trụ tuabin gió nổi ngoài khơi (xem Hình 8) được coi là bước nhảy vọt tiếp theo trong ngành năng lượng gió. Mặc dù còn ở giai đoạn sơ khai, tuabin gió nổi có tiềm năng rất lớn, vì nó có thể được lắp đặt ở vùng nước sâu từ 50 m đến 1.000 m, giải quyết được bài toán nước sâu không phù hợp với công nghệ móng cột cố định của các tuabin gió hiện nay.
Hình 8. Thiết kế tua bin gió nổi ngoài khơi
Hình 9. Dự bao giá thành công nghệ tuabin gió nổi ngoài khơi đến năm 2030

Trang trại gió nổi (floating windfarm) nhiều tuabin đầu tiên trên thế giới là dự án Hywind Scotland 30 MW được lắp đặt năm 2017, cách bờ biển phía tây bắc Scotland gần 30 km và ghi nhận hệ số CF công suất ấn tượng 57%. Các dự án khác tại châu Âu trong bảng 2. Năm 2018 Hàn Quốc bắt đầu thiết kế dự án ngoài khơi Ulsan, Đông Nam Hàn Quốc với công suất 12 GW và dự kiến hoàn thành 2025. Các dự án tuabin nổi được thiết kế xây dựng tại Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Mỹ. Hình 9 cho thấy đến năm 2030 giá LCOE sẽ là thấp hơn 60 USD/MW thấp hơn so với các dạng nguồn than, khí có giá gần 70 USD/MW.

1.5. Công suất lắp đặt
Năm 2018 chứng kiến sự bổ sung 4,8 GW công suất lắp đặt ngoài khơi mới trên toàn thế giới. Trong khi phần lớn (60%) là ở châu Âu, Trung Quốc là quốc gia bổ sung công suất NLG ngoài khơi lớn nhất châu Á. Dự báo cho thấy NLG ngoài khơi sẽ tăng thêm từ 7 đến 11 GW mỗi năm từ 2019 đến 2024, thêm từ 15 GW đến 21 GW mỗi năm trong khoảng từ 2025 đến 2030. Tăng trưởng hàng năm từ 2019 đến 2027 sẽ trung bình 11 GW mỗi năm. Đến năm 2030, NLG ngoài khơi lắp tặt tích lũy sẽ đạt 190 GW và ước tính đầu tư 700 tỷ đô la. Ước tính chỉ ra rằng thị trường châu Âu sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định, nhưng châu Á sẽ tăng tốc và chứng kiến phần lớn các lắp đặt trong thập kỷ tới, trong khi Hoa Kỳ sẽ chiếm khoảng 10% thị trường toàn cầu.

Thị trường điện gió biển gia tăng liên tục hàng năm 30% từ năm 2010 đến năm 2018. Hiện nay có 150 trang trại gió biển lớn đã hoạt động, và đặc biệt tăng mạnh năm 2018 tại Anh, Đức, Đan Mạch, Mỹ, Trung Quốc. Hiện nay châu Âu đã lắp đặt được 20 GW điện gió biển và đã có chính sách hỗ trợ gia tăng gấp 4 lần đến năm 2030 lên 80 GW. IEA dự báo đến năm 2040 thì điện gió biển toàn cầu sẽ có số vốn đầu tư phát triển khoảng 1 ngàn tỷ USD với tốc độ tăng trưởng công suất lắp đặt hàng năm là 13%. Các quốc gia sẽ phát triển mạnh đầu tư điện gió biển đến năm 2040 là EU (Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Ai len), UK, Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan. Hiệu suất công suất lắp đặt của các trang trại điện gió biển đạt 50% cao hơn rất nhiều của điện mặt trời gần 20% và điện gió trên đất liền là 35%.

Đối với các nước đang phát triển, tuabin gió nổi sẽ trở nên quan trọng, đặc biệt là các quốc gia có vùng nước sâu hơn, hoạt động địa chấn và/hoặc rủi ro thời tiết cực kỳ nghiêm trọng. Đến năm 2030, Bloomberg ước tính công suất lắp đặt tích lũy của tuabin gió nổi trên bảy quốc gia và 19 quốc gia khác nhau là 1,2 GW. Kinh nghiệm phát triển NLG ngoài khơi của châu Âu có thể giúp các nước đang phát triển để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi năng lượng sang NLG ngoài khơi.
Điện gió ngoài khơi - đột phá mới cho phát triển kinh tế biển Việt Nam

Điện gió ngoài khơi - đột phá mới cho phát triển kinh tế biển Việt Nam

Theo báo cáo thường niên “Lĩnh vực điện châu Âu năm 2019” do tổ chức nghiên cứu về khí hậu Sandbag hợp tác với tổ chức nghiên cứu Agora Energiewende vừa công bố, năm 2019, lần đầu tiên, tại châu Âu điện gió và điện mặt trời có sản lượng cao hơn điện than.



Sự cần thiết phát triển đột phá điện gió ngoài khơi (ĐGNK) Việt Nam
Biến đổi khí hậu, phát thải nhà kính từ các hoạt động sản xuất đang khiến cho Việt Nam khó khăn hơn khi tiếp cận mục tiêu thiên niên kỷ là đảm bảo phát triển kinh tế trong môi trường mang tính bền vững. Xu hướng phát triển năng lượng xanh trên thế giới, trong đó có điện gió ngoài khơi là giải pháp đột phá.

Để có được những định hướng chiến lược đúng đắn nhất cho việc phát triển, tận dụng nguồn năng lượng từ biển, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết về Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36-NQ/ TW ngày 22/10/2018). Nghị quyết đã đưa ra các đột phá về các ngành kinh tế biển của cả nước đến năm 2030 theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Đồng thời, Quyết định 2068/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 ngày 25/11/2015 đã có mục tiêu: từng bước nâng cao tỷ lệ tiếp cận nguồn năng lượng sạch và điện năng của người dân khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. 

Đến năm 2020, hầu hết số hộ dân có điện, đến năm 2030, hầu hết các hộ dân được tiếp cận các dịch vụ năng lượng hiện đại, bền vững, tin cậy với giá bán điện và giá năng lượng hợp lý. Phát triển và sử dụng nguồn năng lượng tái tạo góp phần thực hiện các mục tiêu môi trường bền vững và phát triển nền kinh tế xanh: giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng so với phương án phát triển bình thường khoảng 5% vào năm 2020; khoảng 25% vào năm 2030 và khoảng 45% vào năm 2050.


Điện gió ngoài khơi - tài nguyên năng lượng tái tạo vô tận
Theo đánh giá của Tổ chức năng lượng quốc tế (IEA) tài nguyên ĐGNK toàn cầu có tiềm năng đạt 420000 TWh hàng năm, nhiều gấp 18 lần nhu cầu hiện tại của toàn thế giới. Từ năm 1991 dự án ĐGNK đầu tiên tại Vindeby, Đan Mạch được xây dựng với 11 tuabin 450 kW, tổng công suất 5 MW tại độ sâu 4m gần bờ và đã được tháo dỡ năm 2017 với hơn 25 năm vòng đời. Gần đây các dự án ĐGNK đã lớn hơn rất nhiều lên đến vài GW với tuabin lớn hơn đến 12 MW và tại các độ sâu lớn gần 200m và xa bờ hơn 100 km. Trước năm 2016 thì giá thành đầu tư một MWh điện gió lên đến 200 USD, tuy nhiên gần đây với sự hoàn thiện pháp lý và công nghệ thì giá thành đã giảm tới khoảng 100 USD/1MWh và cá biệt có dự án đấu thầu tại Vương quốc Anh năm 2019 chỉ khoảng 50 USD/1 MWh.

Thị trường điện gió ngoài khơi gia tăng liên tục hàng năm 30% từ năm 2010 đến năm 2018. Hiện nay có khoảng 150 trang trại gió biển lớn đã hoạt động và đặc biệt tăng mạnh năm 2018 tại Anh, Đức, Đan Mạch, Mỹ, Trung Quốc. Hiện nay châu Âu đã lắp đặt được 20 GW điện gió ngoài khơi và đã có chính sách hỗ trợ gia tăng gấp 4 lần đến năm 2030 lên 80 GW. IEA dự báo đến năm 2040 thì ĐGNK toàn cầu sẽ có số vốn đầu tư phát triển khoảng 1 ngàn tỷ USD với tốc độ tăng trưởng công suất lắp đặt hàng năm là 13%. Các quốc gia, cũng là các trung tâm phát triển ĐGNK đến năm 2040 là EU (Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Ai len), UK, Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan. Hiệu suất công suất lắp đặt của các trang trại ĐGNK đạt 50% cao hơn rất nhiều của điện mặt trời gần 20% và điện gió trên đất liền là 30%.

Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2019 thì Việt Nam có tiềm năng 475 GW ĐGNK tại vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 200 m. Hiện nay tổng các nhà máy điện của Việt Nam là 40 GW đang hoạt động với các nguồn chính là thủy điện, nhiệt điện than và cơ bản đang dần cạn kiệt. Vì vậy với tiềm năng ĐGNK gấp nhiều lần công suất hiện có, có thể đáp ứng nhu cầu điện năng hiện tại và tương lai. 

Vùng ven biển nước ta, đặc biệt vùng phía Nam có diện tích rộng khoảng 142000km2 có độ sâu từ 0m đến 60m có tiềm năng phát triển tốt điện gió biển rất tốt. Theo số liệu tốc độ gió thì vùng này đạt tốc độ gió trung bình ở độ cao 100m đạt hơn 7-10m/s. Hiện nay trang trại gió biển Bạc Liêu đầu tiên với công suất 100 MW đã hoạt động cung cấp khoảng 300 triệu kWh/năm và tới năm 2025, lên tới 1.000 MW hay 3 tỷ kWh/năm.

Cụ thể, các trang trại tuabin gió tại Bạc Liêu đã hoạt động tốt và mang lại hiệu quả kinh tế cao, cơ hội thu hồi vốn khoảng hơn 10 năm, so với tuổi thọ tua bin 50 năm. Trang trại gió biển hiện đóng góp ngân sách cho địa phương với nguồn thu ổn định, như tỉnh Bạc Liêu đạt 76 tỷ đồng/năm, khi hoàn thành trang trại gió 1000 MW sẽ lên tới gần 760 tỷ mỗi năm.

Siêu dự án Thăng Long ngoài khơi Bình Thuận với công suất 3,4 GW đang trong quá trình nghiên cứu khả thi từ năm 2019 và có thể hoàn thành trước năm 2030 sẽ mang lại vị thế cường quốc ĐGNK cho Việt Nam.