Showing posts with label Năng lượng sạch. Show all posts
Showing posts with label Năng lượng sạch. Show all posts
Ước tính công suất nguồn điện năng lượng tái tạo cần xây dựng để thực hiện cam kết cắt giảm khí thải nhà kính của Việt Nam tại COP21

Ước tính công suất nguồn điện năng lượng tái tạo cần xây dựng để thực hiện cam kết cắt giảm khí thải nhà kính của Việt Nam tại COP21

Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về biến đối khí hậu lần thứ 21 (COP21) Việt Nam cam kết vào năm 2030 sẽ cắt giảm lượng khí nhà kính là 8% của tổng lượng phát thải khí nhà kính đối với kịch bản phát triển cơ sở và có thể giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế.

Một trong các giải pháp quan trọng nhất để thực hiện cam kết nói trên là phát triển sử dụng các nguồn và công nghệ năng lượng tái tạo. Bài viết này cho một ước tính về công suất các nguồn điện năng lượng tái tạo cần phải xây dựng để có thể đạt được mục tiêu cắt giảm 8% lượng khí nhà kính (KNK) vào năm 2030.





1. Dự báo phát thải KNK đến 2030
Theo kết quả kiểm kê KNK trong các năm 2010, 2013 và 2014 do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, các nguồn phát thải và hấp thụ KNK ở Việt Nam phát sinh từ 5 lĩnh vực chính là: (1) Năng lượng; (2) Các quá trình sản xuất công nghiệp (IPPU); (3) Nông nghiệp; (4) Sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và (5) Chất thải. Trong các lĩnh vực trên chỉ có lĩnh vực LULUCF là hấp thụ KNK, còn lại đều là các lĩnh vực phát thải KNK, trong đó năng lượng là lĩnh vực phát thải lớn nhất, chiếm tỷ lệ rất cao, trên 60% tổng lượng phát thải quốc gia (bảng 1). Như ta thấy, lượng phát thải KNK ở Việt Nam liên tục tăng lên với tốc độ từ 4%/năm đến 5%/năm. Đặc biệt, tỷ lệ lượng phát thải KNK do lĩnh vực năng lượng tạo ra rất lớn, từ 60% năm 2014 tăng lên 63,8%, 67,4% và 72,4% so với tổng phát thải vào các năm 2020, 2025 và 2030. Vì vậy, việc cắt giảm phát thải KNK trước hết cần tập trung vào lĩnh vực năng lượng.


Về con số tuyệt đối, đến năm 2030, tổng phát thải KNK (có LULUCF) là 888,9 triệu tấn CO2 tđ, trong đó lượng phát thải do lĩnh vực năng lượng tạo ra là 643,2 triệu tấn CO2 tđ. Theo cam kết của Chính phủ Việt Nam tại COP21 Paris, đến năm 2030, chúng ta sẽ cắt giảm 8% lượng phát thải so với kịch bản phát triển thông thường chỉ với nguồn lực trong nước. Điều này có nghĩa là, đến năm 2030, lượng tổng phát thải và lượng phát thải KNK đối với lĩnh vực năng lượng phải cắt giảm tương ứng là 71 triệu tấn và 51,5 triệu tấn.

2. Các giải pháp cắt giảm KNK
Các giải pháp để thực hiện cắt giảm KNK được đề ra trong các báo cáo NDC (Đóng góp do quốc gia tự quyết định) của Việt Nam bao gồm:

1) Nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng hay tiết kiệm năng lượng.
2) Tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT) trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng.
3) Thay đổi cơ cấu năng lượng trong công nghiệp và giao thông vận tải. Ngoài ra, còn có các giải pháp khác như: (i) Giảm nhẹ phát thải KNK thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp; (ii) Quản lý và phát triển rừng bền vững, tăng hấp thụ CO2 và dịch vụ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với phát triển kinh tế; (iii) Quản lý chất thải.

Các giải pháp số 1) đến 3) trực tiếp liên quan đến lĩnh vực năng lượng. Dưới đây thử ước tính công suất điện NLTT cần phát triển đến năm 2030 để đáp ứng yêu cầu cắt giảm 8% KNK mà Việt Nam đã cam kết tại COP21 đối với lĩnh vực năng lượng.

3. Ước tính công suất NLTT cần lắp đặt
3.1. Cơ sở ước tính
Như đã nói ở trên, để cắt giảm 8% lượng KNK của lĩnh vực năng lượng vào năm 2030 thì cần phải cắt giảm 51,5 triệu tấn CO2 tương đương. Ta giả thiết rằng, để cắt giảm lượng phát thải KNK này, cần sử dụng đồng thời 3 giải pháp về năng lượng. Tùy thuộc vào đặc điểm, khả năng của mỗi giải pháp mà sự đóng góp tiềm năng cắt giảm KNK của chúng khác nhau. Trên cơ sở phân tích khả năng thực tế của từng giải pháp, chúng tôi đề nghị tỷ trọng cắt giảm KNK của các giải pháp năng lượng như sau:

(1) Giải pháp tiết kiệm năng lượng đóng góp cắt giảm 15% lượng KNK, tương ứng cắt giảm 4,12 triệu tấn CO2 tđ trong tổng số 51,5 triệu tấn CO2 tđ đối với lĩnh vực năng lượng;
(2) Giải pháp thay đổi cơ cấu năng lượng trong công nghiệp và giao thông vận tải: cắt giảm 5%, tương ứng cắt giảm 2,575 triệu tấn CO2 tđ;
(3) Giải pháp sử dụng các nguồn NLTT: cắt giảm 80%, tương ứng cắt giảm 41,2 triệu tấn CO2 tđ ; Với Hệ số phát thải CO2 trung bình K = 0,62kg CO2/kWh, có thể tính được lượng điện năng từ các công nghệ NLTT cần được sản xuất ra trong năm 2030 để cắt giảm được các lượng KNK nói trên.

3.2. Ước tính công suất NLTT phải lắp đặt năm 2030
Như thấy trên bảng 2, tổng điện năng các nguồn điện NLTT cần sản xuất trong năm 2030 phải là 66.451.613 MWh hay khoảng 66,452 tỷ kWh.


Đối với các nguồn và công nghệ NLTT, với điều kiện Việt Nam, vào năm 2030, các nguồn và công nghệ NLTT có thể tham gia vào sản xuất điện năng sẽ gồm: điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối và thủy điện nhỏ. Dựa trên tiềm năng thực tế ở Việt Nam, tính kinh tế của các công nghệ NLTT hiện nay, cơ cấu các loại nguồn điện NLTT nói trên được kiến nghị như sau: (1) Điện mặt trời: 52% ; (2) Điện gió: 25% và (3) Thủy điện nhỏ và điện sinh khối: 23% (bảng 3). Mỗi loại công nghệ này lại có hệ số công suất riêng, phụ thuộc vào tiềm năng nguồn NLTT tương ứng, loại công nghệ và đặc điểm tự nhiên ở Việt nam, như được cho trong bảng 3.

Từ các số liệu này ta có thể tính ra lượng điện năng các loại nguồn NLTT phải sản xuất ra (MWh), số giờ vận hành đầy công suất hàng năm và do đó tính được công suất các loại nguồn cần lắp đặt và vận hành đến năm 2030 (bảng 3).

Theo đó, đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện NLTT cần lắp đặt, vận hành là 39.329 MW, trong đó Điện mặt trời: 28.176 MW; Điện gió: 8.245 MW và Thủy điện nhỏ và Điện sinh khối là 2.908 MW. 3.3. So sánh với các chỉ tiêu của Quy hoạch phát triển Điện VII (Quy hoạch phát triển điện lực giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030).


Theo Quy hoạch điện VII thì đến năm 2030, tổng công suất Điện mặt trời, Điện gió và Thủy điện nhỏ, điện sinh khối là 27.195 MW, trong đó: Điện mặt trời: 12.000 MW; Điện gió: 6.000 MW và Thủy điện + điện sinh khối là 9.195 MW. Như vậy, tổng công suất ước tính trong bài viết này lớn hơn tổng công suất của Quy hoạch điện VII là 12.134 MW. Sự chênh lệch đối với từng loại công nghệ NLTT được cho trên hình 1, trong đó, công suất điện mặt trời và điện gió vào năm 2030 theo ước tính lớn hơn 2,3 lần và 1,4 lần so với các chỉ tiêu tương ứng của Quy hoạch điện VII. Riêng đối với điện sinh khối và thủy điện nhỏ, kết quả ước tính thấp hơn chỉ tiêu của Quy hoạch điện VII là 6.287 MW. Mặc dù chỉ là ước tính, tuy nhiên sự ước tính này dựa trên các cơ sở thực tế về tiềm năng các nguồn NLTT, về sự tiến bộ của các công nghệ NLTT và có tính đến sự dịch chuyển kinh tế, xã hội… của nước ta, nên chúng tôi cho rằng các kết quả ước tính là khá tin cậy và khách quan, là các kết quả nên nghiêm túc tham khảo.
Giải pháp năng lượng xanh cho ngôi nhà xanh, thành phố xanh

Giải pháp năng lượng xanh cho ngôi nhà xanh, thành phố xanh

1. Thuật ngữ “Năng lượng xanh” 
Gần đây, thuật ngữ “xanh” là một thuật ngữ đang rất thời sự. Chúng ta vẫn thường nghe thuật ngữ này qua các mệnh ngữ như: ‘nền kinh tế xanh”, “năng lượng xanh”, “thành phố xanh”, “ngôi nhà xanh”, v.v… Vậy, thuật ngữ “xanh” trong các mệnh ngữ trên có ý nghĩa chính là gì?

Ý nghĩa chính của thuật ngữ “xanh” là không có hoặc có ít nhất khí nhà kính (KNK - như CO2, CH4, N2O, HCFs, …), là các loại khí đang làm cho khí hậu quả đất chúng ta nóng lên, dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu rất nguy hiểm. Khi nói “phát triển nền kinh tế xanh” có nghĩa là phát triển nền kinh tế trong đó mọi hoạt động kinh tế đều được yêu cầu không có hoặc phát thải KNK tối thiểu; “năng lượng xanh” là các nguồn NL sạch, không phát thải hoặc phát thải rất ít KNK như các nguồn năng lượng mặt trời (NLMT), năng lượng gió hay nói chung là các nguồn năng lượng tái tạo (NLTT); “thành phố xanh” là thành phố hiện đại, thông minh, nơi mà mọi hoạt động của thành phố đều phải được kiểm soát về phát thải KNK và phát thải KNK cần phải được giảm thiểu, v.v… Đôi khi “thành phố xanh” cũng còn có ý là thành phố nhiều cây xanh, tỷ lệ cây xanh trên đầu người cao. Và điều này cuối cùng vẫn có ý nghĩa là thành phố có phát thải KNK thấp (do cây xanh hấp thụ CO2 và tạo ra sinh khí O2). 

Theo các báo cáo kiểm kê KNK được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện (các báo cáo BUR1- 2010, BUR2-2013 và BUR3-2014) thì ở Việt Nam có 5 lĩnh vực phát thải và hấp thụ KNK chính. Đó là: (i) năng lượng; (ii) các quá trình công nghiệp; (iii) nông nghiệp; (iv) sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và (v) chất thải. Lượng phát thải KNK (qui về lượng CO2 tương đương) được kiểm kê đến 2014 và dự báo cho đến năm 2030 được cho trong bảng 1.



Từ bảng 1 thấy rằng, phát thải trong lĩnh vực năng lượng (khai thác, chế biến và sử dụng) chiếm tỷ lệ áp đảo, đặc biệt là trong những thập niên sắp đến. Nói riêng, năm 2014, tỷ lệ phát thải KNK của lĩnh vực năng lượng là 62,2% và tăng lên đến 64% và 72,4% vào các năm 2020 và 2030. Hình 1 còn cho thấy xu thế tăng phát thải KNK của các lĩnh vực và của tổng phát thải đến năm 2030. 

Như vậy, có thể nói rằng, lĩnh vực năng lượng là thủ phạm chính gây ra phát thải KNK. Và do đó, để giảm phát thải KNK thì cần phải sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đồng thời phải tăng cường phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng sạch, NLTT. Đối với các thành phố, nơi mà các lĩnh vực nông nghiệp và LULUCF có vai trò rất nhỏ và là nơi có mật độ cư dân rất cao, thì tỷ lệ phát thải KNK của lĩnh vực năng lượng còn cao hơn nhiều so với tỷ lệ chung trên cả nước như chỉ ra trên bảng 1 do nhu cầu tiêu thụ năng lượng cao, do mật độ phương tiện giao thông dày đặc và do lượng rác thải thải ra hàng ngày rất lớn. Vì vậy, có thể nói rằng, một thành phố xanh phải là một thành phố sử dụng năng lượng tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất và sử dụng các nguồn năng lượng sạch phổ biến nhất.

Như ta biết, một trong những thành phần chính của một thành phố là các ngôi nhà bao gồm các ngôi nhà ở của các hộ gia đình, các tòa nhà công sở, các tòa nhà ở các khu công nghiệp và thương mại, các nhà kính phục vụ sản xuất nông nghiệp sạchv.v…. Một thành phố xanh tất nhiên phải bao gồm các ngôi nhà xanh, và theo cách hiểu đã nói ở trên, thì các ngôi nhà xanh phải là các ngôi nhà sử dụng các nguồn và công nghệ năng lượng xanh.

2. Một số giải pháp công nghệ xanh có thể thực hiện trực tiếp cho ngôi nhà
Sử dụng nguồn và công nghệ năng lượng xanh cho các ngôi nhà là nội dung cốt lõi để tạo lập ngôi nhà xanh. Dưới đây sẽ trình bày kinh nghiệm được tổng kết từ các hoạt động xây dựng thành phố xanh, ngôi nhà xanh trên thế giới thông qua việc ứng dụng một số giải pháp khá đơn giản, đầu tư ban đầu không lớn, nhưng hiệu quả về giảm phát thải KNK lại rất đáng kể. Các giải pháp này thuộc về hai nhóm công nghệ. Đó là nhóm công nghệ năng lượng tái tạo và nhóm tiết kiệm năng lượng.

(2.1). Lắp đặt nguồn điện mặt trời trên mái nhà
Hiện nay, do công nghệ sản xuất pin mặt trời tiến bộ rất nhanh chóng, nên suất đầu tư và do đó giá điện mặt trời (ĐMT) đã và đang giảm một cách kịch tính. Suất đầu tư các hệ nguồn ĐMT trên thị trường thế giới và Việt Nam chỉ còn trên dưới 1000 USD/kWp. Ngoài ra, gần như tất cả các nước trên thế giới đều có các chính sách hỗ trợ phát triển NLTT nói chung và ĐMT nói riêng, nên thực tế, lợi ích từ các dự án ĐMT mang lại còn lớn hơn nhiều.

Nguồn ĐMT có dàn pin mặt trời lắp vào mái nhà gọi là nguồn ĐMT mái nhà (xem ảnh bên). Những lợi ích trực tiếp của việc lắp đặt nguồn ĐMT mái nhà bao gồm: (1) không phải sử dụng đất, nên giảm được chi phí mua/thuê mặt bằng lắp đặt dàn pin; (2) ngôi nhà sẽ mát hơn do NLMT đã bị dàn pin hấp thụ; (3) chi phí tiền điện hàng năm giảm và thậm chí còn có thể tăng thu nhập thêm nếu hệ nguồn công suất đủ lớn. Việc đầu tư xây dựng nguồn ĐMT chính là đầu tư vào nguồn năng lượng sạch, không phát thải KNK, và do đó góp phần tạo ra các ngôi nhà xanh và thành phố xanh.

Với một thành phố lớn như Tp. Hồ Chí Minh, với khoảng gần 2 triệu hộ (8 triệu dân), nếu chỉ 20% số hộ lắp đặt nguồn ĐMT, với công suất trung bình 4kWp/hộ, thì tổng công suất ĐMT mái nhà của cả thành phố sẽ là 1,6 triệu kWp. Với bức xạ NLMT trung bình ngày ở Tp. HCM là 4,8 kWh/m2/ngày thì lượng điện năng phát ra từ các hệ nguồn ĐMT mái nhà sẽ khoảng 2,8 tỷ kWh/năm (= 1,6 triệu kWp x 4,8 x 365) và tất nhiên lượng điện này thay thế cho chừng ấy điện năng được sản xuất từ nguồn nhiên liệu hóa thạch. Ước lược một cách sơ bộ, với hệ số phát thải trung bình 0,6 kg CO2/kWh, thì lượng CO2 giảm được sẽ khoảng 1.682 triệu tấn/năm. Một con số rất ấn tượng. 

Cần lưu ý rằng, với suất đầu tư như đã nói ở trên, tổng chi phí đầu tư cho một hệ nguồn ĐMT hộ gia đình 4kWp trung bình chỉ khoảng 85 triệu đồng, một số tiền mà phần lớn các hộ gia đình ở các thành phố có thể đầu tư. Ngoài ra, theo Thông tư số 16/2017/TT-BCT, ngày 12 tháng 9 năm 2017 “Quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời” thì thủ tục lắp đặt nguồn ĐMT nối lưới cũng khá đơn giản và thuận lợi. Theo tính toán, thì thời gian hoàn vốn đối với các nguồn ĐMT ở khu vực Miền Nam trong khoảng 8 đến 10 năm, trong khi tuổi thọ của hệ nguồn là từ 20 đến 25 năm.

(2.2). Lắp đặt thiết bị nước nóng NLMT
Lắp một thiết bị nước nóng NLMT (TBNNMT) cũng là một giải pháp rất hiệu quả để làm giảm chi phí tiêu thụ năng lượng trong ngôi nhà của chúng ta một cách đáng kể. Một TBNNMT hộ gia đình thường có diện tích thu NLMT khoảng 2m2 với dung tích bình chứa khoảng 200 lít. Tổng chi phí đầu tư cho một TBNNMT này chỉ vào khoảng (15 – 18) triệu đồng. Việc mua sắm và lắp đặt thiết bị rất dễ dàng, đơn giản vì thị trường TBNNMT ở nước ta khá phát triển.

Ta hãy ước tính sơ bộ lượng giảm tiền điện và giảm phát thải CO2 đối với thiết bị trên. Cũng giả sử rằng, TBNNMT lắp đặt tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh, nơi có cường độ NLMT bằng 4,8 kWh/m2/ngày. Hiệu suất biến đổi năng lượng của các TBNNMT điển hình là 40% (thực tế có thể cao hơn). Như vậy, mỗi ngày TBNNMT với diện tích mặt thu 2m2 tạo ra khoảng 3,8 kWh từ NLMT, và do đó hàng năm TBNNMT này sản xuất ra khoảng 1.387 kWh, tức là đã giảm được tiền mua điện (với giá trung bình 1.700 đ/kWh) là khoảng 2,4 triệu đồng. Như vậy, thời gian hoàn vốn trong khoảng (6,4 – 7,5) năm. Lượng phát thải CO2 giảm được hàng năm là 832 kg cho một TBNNMT. Nếu 20% các hộ gia đình ở Tp. Hồ Chí Minh (400.000 hộ) sử dụng TBNNMT nói trên thì lượng điện tiết kiệm hàng năm sẽ cũng rất lớn và bằng gần 555 triệu kWh. Lượng phát thải KNK giảm khoảng 333 triệu tấn CO2¬ tương đương trong một năm.

(2.3). Lắp đặt máy phát điện gió mini
Khi nghĩ về máy phát điện gió, thường ta nghĩ ngay đến các cánh đồng điện gió rất lớn với các cột trụ cao hàng trăm mét và các tua bin gió có đường kính hàng chục, hàng trăm mét. Nhưng cũng cần biết rằng, thực tế còn có thị trường các loại máy điện gió mini có công suất nhỏ hơn, từ hàng trăm Oát (W) đến vài chục ki-lô-oát (kW) sử dụng cho các ngôi nhà nhỏ. Giá của các máy phát điện gió mini cho hộ gia đình biến đổi trong một khoảng rất rộng. Một số hộ còn có thể tự tìm mua vật tư, vật liệu, phụ tùng ở các cửa hàng địa phương và chế tạo, lắp đặt riêng cho nhà mình. Một số hộ khác mua đồng bộ thiết bị và thuê những công ty chuyên nghiệp lắp đặt trọn gói để bổ sung vào điện năng được mua từ lưới điện địa phương.

Khả năng sản xuất điện của các máy điện gió mini biến đổi cũng nhiều như giá cả của chúng. Nhiều hộ chỉ sử dụng máy điện gió phát điện bổ sung khoảng (10- 15)% tổng nhu cầu năng lượng của gia đình. Nhưng cũng có một số hộ sử dụng máy điện gió công suất lớn hơn, có giá đến gần 100 triệu đồng và có thể cung cấp khoảng 90% nhu cầu điện của hộ.

(2.4). Lắp đặt hệ thống thu gom nước mưa
Các hệ thống thu gom nước mưa là các hệ cơ học cực kỳ đơn giản. Nó được nối với hệ máng, mương hoặc hệ thu gom nước mưa của mái nhà và được tích trữ vào trong các thùng hoặc bể để sử dụng sau đó cho các mục đích làm nước ăn, tắm rửa, lau nhà cửa, tưới vườn cây, v.v... Các hệ thống này là rất rẻ và các hộ có thể tự mua vật tư và tự lắp đặt. Còn nếu ký hợp đồng để xây dựng hệ thu gom nước mưa thì tổng chi phí cũng chỉ từ vài vài triệu đến chục triệu đồng. Sử dụng hệ thống thu gom nước mưa giúp giảm tiền mua nước, giảm điện năng để bơm nước, v.v… và do đó cũng là một giải pháp góp phần giảm phát thải KNK.

(2.5). Lắp đặt thiết bị giám sát năng lượng (Energy Monitor)
Một trong các điều dễ thực hiện nhất là lắp đặt một Bộ giám sát năng lượng (energy monitor). Các Bộ giám sát năng lượng hộ gia đình dễ sử dụng và rẻ, nhưng nó cho phép biết được hàng phút hiện trạng sử dụng năng lượng của ngôi nhà. Thiết bị này làm việc bằng cách gắn (nó) vào cáp điện chính đi vào ngôi nhà và truyền các tín hiệu vô tuyến (wireless) đến một màn hình chỉ thị lượng điện năng đã sử dụng hoặc cũng có thể kết nối với Smartphone của chủ hộ hay thành viên trong gia đình, và do đó, ở bất kỳ nơi đâu (có internet) và bất kể thời gian nào cũng có thể biết được tình trạng sử dụng điện trong ngôi nhà.

Trong một nghiên cứu do British Isles thực hiện, các chủ hộ ngôi nhà có lắp Bộ giám sát năng lượng tiết kiệm được (10- 15)% năng lượng sử dụng hàng năm bằng cách lắp đặt thiết bị không đắt và đơn giản. Giá của một Bộ giám sát năng lượng chỉ trong khoảng từ 460.000 đến 3.400.000 đồng (20 đến 150 USD). Với số năng lượng tiết kiệm hàng năm nói trên thì thời gian hoàn vốn chỉ là 6 tháng.

(2.6). Chọn mua các thiết bị điện có dán nhãn tiết kiệm năng lượng
Các thiết bị dán nhãn tiết kiệm năng lượng đang trở nên rất phổ biến trong thời gian gần đây và được khách hàng rất quan tâm lựa chọn. Một thiết bị dán nhãn năng lượng, nói chung, tiêu thụ ít năng lượng hơn so với các thiết bị cùng loại không được dán nhãn. Ví dụ, mua một tủ lạnh dán nhãn năng lượng sẽ tiết kiệm được khoảng hơn 15% năng lượng so với tủ lạnh cùng loại không dán nhãn năng lượng trên thị trường. Một máy giặt dán nhãn năng lượng cũng sẽ tiêu thụ năng lượng ít hơn so với máy giặt cùng loại cũ không có nhãn tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, khi sử dụng máy giặt dán nhãn năng lượng thì áo quần giặt chậm cũ hơn, màu của áo quần cũng bền hơn và thời gian sấy khô ngắn hơn. Tất cả các ưu điểm đó cộng lại làm tiết kiệm đến hơn 50% năng lượng, và do đó giảm hóa đơn tiền điện hàng năm, so với các mẫu máy giặt cũ (thường đồ giặt được cho vào từ phía trên) không dán nhãn tiết kiệm năng lượng.
LNG - nguồn năng lượng sạch cho đất nước

LNG - nguồn năng lượng sạch cho đất nước

LNG là gì?
LNG là viết tắt của Liquified Natural Gas – khí thiên nhiên hoá lỏng, dùng để chỉ một loại sản phẩm từ khí thiên nhiên truyền thống được làm lạnh đến mức hoá lỏng ở nhiệt độ -162 độ C. LNG tồn tại ở dạng lỏng, không màu, không mùi, không ăn mòn và không độc. Với cùng một khối lượng, thể tích của LNG chỉ bằng 1/600 lần so với thể tích của khí thiên nhiên ở trạng thái bình thường.



Các lợi ích của LNG
Sạch, thân thiện với môi trường: Khi tiếp xúc với môi trường, LNG nhanh chóng bốc hơi không để lại dư lượng trên mặt nước hoặc mặt đất. Vì vậy, các ảnh hưởng tác động đến môi trường sau sự cố tràn đổ LNG là không đáng kể, không yêu cầu phải có các biện pháp xử lý môi trường như sự cố tràn đổ các sản phẩm dầu khí khác. Thành phần có trong LNG chủ yếu là khí mêtan vì trong quá trình làm lạnh để sản xuất LNG, các thành phần hydrocarbon khác và tạp chất như: nước, nitơ, oxy, khí CO2, các hợp chất lưu huỳnh… sẽ dần được tách và loại bỏ. Vì vậy, khi cháy, khí thiên nhiên thải ra một lượng rất nhỏ sulfur dioxide (SO2) và nitơ oxit (NOx), hầu như không có tro bụi.

Than và dầu gồm có các phân tử phức tạp hơn, với tỷ lệ carbon cao hơn và hàm lượng nitơ và lưu huỳnh cao hơn. Điều này có nghĩa là khi đốt, than và dầu thải ra lượng phát thải độc hại cao hơn, bao gồm tỷ lệ phát thải CO2, NOx và SO2 cao hơn. Than và dầu nhiên liệu còn phát tán tro bụi vào môi trường, đó là các chất không cháy hết được đưa vào khí quyển và góp phần gây ô nhiễm. Như vậy có thể nói, khí thiên nhiên nói chung và LNG nói riêng là nhiên liệu hoá thạch sạch nhất, có thể được sử dụng theo nhiều cách để giúp giảm phát thải các chất ô nhiễm vào bầu khí quyển.

An toàn: Do thành phần chủ yếu là mêtan có tỉ trọng nhẹ hơn không khí nên khi LNG rò rỉ ra môi trường toàn bộ lượng khí sẽ bốc hơi lên cao, không tạo thành các đám mây khí dễ cháy lân cận khu vực rò rỉ như một số sản phẩm xăng dầu. Mặt khác, LNG chỉ bắt cháy khi có nguồn nhiệt cao hơn 537,7 độ C, trong khi xăng và dầu diesel có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn nhiều.

Trữ lượng dồi dào: Trữ lượng dự trữ khí đốt thiên nhiên trên toàn thế giới lớn hơn rất nhiều so với trữ lượng dầu thô (nếu tính cả trữ lượng khí từ mỏ đá phiến thì trữ lượng khí thiên nhiên trên thế giới có thể sử dụng ước tính hơn 130 năm). Điều này làm cho giá LNG bớt phụ thuộc vào các nước sản xuất dầu.

Vận chuyển linh hoạt: LNG dễ vận chuyển như xăng hoặc dầu diesel, khác với việc vận chuyển khí thiên nhiên truyền thống phải phụ thuộc vào hệ thống đường ống dẫn khí. Cũng do đặc tính an toàn nên LNG có thể vận chuyển vượt đại dương bằng những tàu chở chuyên dụng tới 250.000 tấn. Ngoài ra, LNG còn có thể cung cấp cho các hộ tiêu thụ nằm xa hệ thống hạ tầng cung cấp khí thông qua các phương tiện vận tải nhỏ hơn như xe bồn, xà lan hoặc tàu hoả…

Hiệu quả kinh tế: Sử dụng LNG không chỉ mang lại nhiều lợi ích về môi trường mà còn tiết kiệm đáng kể về mặt kinh tế. Qua số liệu thống kê thực tế cho thấy, trong vòng 10 năm từ 2005 tới 2015, sản lượng LNG hàng năm trên thế giới đã tăng gấp đôi: từ 150 triệu tấn lên tới 300 triệu tấn. Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong khai thác và sản xuất khí từ đá phiến làm cho chi phí của khí thiên nhiên cũng như LNG ngày càng có ưu thế so với các nhiên liệu từ sản phẩm dầu mỏ. Đồng thời, khoa học công nghệ trong sản xuất LNG đã giúp định vị LNG như là một trong những loại nhiên liệu có chi phí sản xuất và vận chuyển rẻ nhất, so với các loại nhiên liệu hoá thạch khác.

Ở khía cạnh vận hành,các thiết bị sử dụng khí thiên thiên làm nhiên liệu có thể đạt hiệu suất cao hơn 3 - 5% so với sử dụng dầu nhiên liệu tương đương, đồng nghĩa với việc tiết kiệm chi phí khi sử dụng khí thiên nhiên.